NGUYỄN DU VÀ HOA TRONG TRUYỆN KIỀU
TS. Cao Ngọc Châu
Người ta cứ tưởng trong Truyện Kiều thì tên nàng Kiều được nhắc đến nhiều nhất, nhưng không phải, nó chỉ xuất hiện 13 lần. Ngược lại, chữ HOA hiện diện tới 105 lần, thật đáng ngạc nhiên.
Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã nhắc đến 20 loài hoa là: Đào (17 lần), mai (4 lần), sen (5 lần), lan (2 lần), cỏ lau (2 lần), hồng (8 lần), lê (3 lần), cúc (4 lần), hải đường (2 lần), trà mi (2 lần), phù dung (1 lần), lựu (1 lần), mẫu đơn (1 lần), liễu (2 lần), huệ (2 lần), mận (2 lần), dã quỳ (1 lần), hoa râm (1 lần), quỳnh (1 lần), hòe (2 lần).
Thứ nhất, Nguyễn Du nói về hoa với khía cạnh là một sản vật tinh túy làm đẹp đất trời.
– Một vùng cỏ áy bóng tà
Gió hiu hiu thổi một và bông lau.
– Cửa trời rộng mở đường mây
Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần.
– Khi chén rượu, lúc cuộc cờ
Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên. v.v..
Thứ hai, Nguyễn Du sử dụng các loài hoa: Đào, lê, hải đường biểu thị cho mùa xuân; sen, lựu biểu thị cho mùa hạ; cúc để biểu thị cho mùa thu:
– Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
– Hải đường lả ngọn đông lân
Giọt sương treo nặng cành xuân la đà.
– Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.
– Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.v.v..
Thứ ba, để tả nét đẹp của người con gái, ông tả vẻ đẹp của loài hoa:
– Bóng hồng nhác thấy nẻo xa
Xuân lan, thu cúc, mặn mà cả hai.
– Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
– Cớ sao trằn trọc canh khuya
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa…v.v..
Thứ tư, để lên án sự đối xử thô bạo với phụ nữ, Nguyễn Du đưa ra hình ảnh các loài hoa đẹp mỏng manh bị tàn phá:
– Bạc tình nổi tiếng lầu xanh
Một tay chôn biết mấy cành phù dung.
– Xót thay đào lý một cành
Một phen mưa gió tan tành một phen.
– Hung hăng chẳng nói, chẳng tra
Đang tay vùi liễu, dập hoa tơi bời..v.v..
Thứ năm, sự nguyên vẹn của bông hoa biểu thị cho trinh bạch của người con gái.
– Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.
– Tiếc thay một đoá trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
– Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng
Hoa thơm phong nhị trăng vàng tròn gương.
Đặc biệt, ông rất nhiều lần sử dụng từ “hoa” để miêu tả nhân vật, tình và cảnh, thống kê toàn truyện, 3254 câu thơ lục bát, Nguyễn Du đã 105 lần nhắc đến mĩ từ này. Có câu dùng tới ba lần: Hoa sao hoa khéo đoạ đầy bấy hoa. Nhưng có lẽ từ hoa mà thi sĩ sử dụng nhiều nhất là để biểu thị người con gái:
– Xót nàng chút phận thuyền quyên
Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn.
– Dưới trần mấy mặt làng chơi
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa.
– Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi.v.v..
Nguyễn Du yêu hoa và yêu Thúy Kiều đến mức: tất cả những vật dụng liên quan đến nàng ông đều thêm mĩ từ HOA vào làm cho chúng lung linh, lộng lẫy, xinh đẹp hẳn lên. Ngoài những vật thông thường có trang trí hoa như: kiệu, trướng, sân, thềm, giấy thì ngay cả cây bút, then cửa, tường rào, bó đuốc, tiệc… ông cũng “đính” hoa vào làm cho hình ảnh sống động huyền ảo. Đây là lối viết tu từ, ước lệ rất được Nguyễn Du ưa dùng. Bút hoa viết lên những chữ rất đẹp cùng lời văn hoa mĩ. Ngọn đuốc cháy như bông hoa lửa bập bùng. Còn “thề hoa” là lời thề được viết trên giấy in hoa, tránh tình trạng “lời nói gió bay”…
– 171. Kiều từ trở gót trướng hoa
Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.
– Này mười bài mới mới ra
- Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.
– Đến nhà vừa thấy tin nhà
- Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
– 529. Cửa sài vừa ngỏ then hoa
Gia đồng vào gửi thư nhà mới sang.
Ngay cả giọt nước mắt của nàng Kiều rơi xuống cũng loang ra thành hình bông hoa.
– 633. Nỗi mình thêm tức nỗi nhà
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng!
Rồi thân phận người hầu gái được coi là hèn kém trong quan niệm dưới thời phong kiến ông cũng ghép từ hoa vào thành từ “hoa tì”. “hoa nô”:
– Nàng càng e lệ ủ ê
Rỉ tai hỏi lại hoa tì trước sau.
– Rằng: Hoa nô đủ mọi tài
Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.
Khi Kiều bị Hoạn Thư bắt cóc về làm thị tì, ông cũng đặt tên cho nàng là Hoa:
– Hoa nô truyền dạy đổi tên
Buồng the dạy ép vào phiên thị tì.
Để tả cuộc đời lênh đênh và rẻ rúng của Kiều, đằng sau danh từ hoa ông dùng những động từ miêu tả sự tàn lụi hoặc những tính từ, cụm từ tả sự nhạt phai, tầm thường như: hoa rụng, hoa rơi, hoa trôi, hoa tàn, hoa thải, hoa tường, hoa hèn, hoa giữa đường, hoa đã lìa cành, hoa cuối mùa, hoa rã cánh…
– Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
– Tuồng chi hoa thải hương thừa
Mượn màu son phấn đánh lừa con đen.
– Nước trôi hoa rụng đã yên
Hay đâu địa ngục ở miền trần gian.
Để miêu tả sự đày đọa ê chề, tủi nhục của nàng Kiều Nguyễn Du đã 4 lần điệp từ hoa tàn:
- Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi.
- Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi?
- Còn chi nữa cánh hoa tàn.
- Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn.
Và 3 lần dùng từ hoa rụng:
- Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?
- Nước trôi hoa rụng đã yên
- Rõ ràng hoa rụng hương bay.
Tương tự, ông cũng 5 lần điệp từ hoa trôi, miêu tả cuộc đời phiêu bạt, chìm nổi của Thúy Kiều
- Hoa trôi bèo dạt đã đành.
- Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng.
- Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
- Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo.
- Hoa trôi nước chảy xuôi dòng.
Ngược lại, Nguyễn Du nhiều lần đặt trước hoa những động từ “bạo lực” như: ép, dầu, dập, bẻ, vầy, chơi… để lên án sự chà đạp tàn khốc lên thân phận người phụ nữ nói chung và Thuý Kiều nói riêng trong xã hội bấy giờ.
- Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa
- Đang tay vùi liễu, dập hoa tơi bời
- Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa
- Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi.
Riêng từ “bẻ hoa” tác giả dùng tới 4 lần:
- Về đây nước trước bẻ hoa
- Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa
- Bắt về Vô Tích toan đường bẻ hoa
- Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa.
Có lúc từ hoa nói lên một ý khác lạ:
– Sinh rằng: Phác hoạ vừa rồi
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.
Trong câu thơ trên, thêm hoa có thể hiểu là: Kim Trọng xin Kiều đề tặng vào bức vẽ một bài thơ ngắn để bức tranh thêm ý nghĩa…
Còn trong câu:
– Sợ gan nát ngọc liều hoa
Mụ còn trông mặt nàng đà quá tay.
Từ liều hoa ở đây lại chỉ mạng sống của Kiều.
Đặc biệt, Nguyễn Du 5 lần dùng từ hoa để chỉ nam giới, đó là Kim Trọng.
– Cách hoa sẽ dắng tiếng vàng
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.
– Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
– Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lời thề thôi đã phụ phàng với hoa.
– Tình sâu mong trả nghĩa dầy
Hoa kia đã chắp cành này cho chưa.
Sáu lần Thúy Kiều “lấy chồng” thì chỉ có năm lần nàng được lên kiệu hoa, trong đó đám cưới với Thúc sinh là “thơ mộng” nhất.
- Kiệu hoa đâu đã đến ngoài (Mã Giám sinh cưới Kiều)
- Kiệu hoa cất gió đuốc hồng ruổi sao (Thúc sinh cưới Kiều)
- Kiệu hoa đặt trước thềm hoa (Bạc Hạnh cưới Kiều)
- Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền (Thổ quan của Hồ Tôn Hiến cưới Kiều)
- Kiệu hoa giục giã tức thì (tái hồi Kim Trọng).
Truyện Kiều là tuyệt tác. Đã có nhiều người khai thác từng khía cạnh như: Nghệ thuật chơi chữ; nghệ thuật tu từ; tiếng đàn của Kiều; tả trăng trong Kiều; tả bốn mùa; các bài thơ do Kiều sáng tác; các động vật và thực vật có mặt trong Truyện Kiều, tiểu đối trong Truyện Kiều; sự tương đồng giữa Truyện Kiều và Bích Câu Kỳ Ngộ… Bài viết này thì chỉ nghiên cứu về “hoa”, hy vọng sẽ cung cấp cho độc giả một số thông tin thú vị.