BÀN THÊM VỀ THỂ HIỆN CHÍNH TẢ VÀ PHÂN ĐOẠN TRONG VĂN BẢN (QUỐC NGỮ) TRUYỆN KIỀU (Hướng tới, phục vụ độc giả phổ thông)- NNC Trần Đình Tuấn

 

BÀN THÊM VỀ THỂ HIỆN CHÍNH TẢ VÀ PHÂN ĐOẠN TRONG VĂN BẢN (QUỐC NGỮ) TRUYỆN KIỀU   

(Hướng tới, phục vụ độc giả phổ thông)

                                                                                          NNC. Trần Đình Tuấn – Phó Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam

Việc phiên âm Truyện Kiều – truyện thơ Nôm sang Quốc ngữ đòi hỏi tuân thủ các quy tắc chính tả để giúp bạn đọc tiếp cận và hiểu rõ hơn nội dung của một truyện thơ dài. Dù đã có lịch sử 150 năm, kể từ khi bản Truyện Kiều – Quốc ngữ đầu tiên do nhà ngôn ngữ học  Trương Vĩnh Ký phiên âm và xuất bản năm 1875 đến nay thì việc các bản Truyện Kiều – Quốc ngữ ngày nay thể hiện các quy tắc chính tả và cách dùng dấu câu cũng như việc phân đoạn Truyện Kiều đã có nhiều thay đổi, chưa được nhất quán và có nhiều vấn đề cần phải bàn thảo…

Truyện Kiều là di sản văn hóa vô giá của dân tộc. Do đó, Hội Kiều học Việt Nam, Hội đồng Gia tộc họ Nguyễn Tiên Điền, Viện Nghiên cứu danh nhân tổ chức tọa đàm về chủ đề này để mong các nhà nghiên cứu quan tâm, xem xét, bàn thảo… nhằm hướng đến một văn bản Truyện Kiều – Quốc ngữ được thống nhất mặt bằng chung về phương diện thể hiện chính tả cũng như việc trình bày, ghi chú phân đoạn để giúp bạn đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn nội dung Truyện Kiều. Và điều này có nên?

♠♠♠

– Có thể nói, việc thể hiện văn bản quốc ngữ Truyện Kiều về chính tả và việc phân đoạn do các nhà in, biên tập viên của nhà xuất bản hay tác giả (nhóm tác giả) thực hiện qua từng thời kỳ đã có sự khác nhau về vấn đề văn phạm – chính tả, về phân đoạn.

– Dưới đây là các vấn đề tóm lược được đặt ra thông qua việc trình bày, thể hiện chính tả và phân đoạn Truyện Kiều trong 150 năm qua để người tham gia tọa đàm nắm bắt được.

  1. Quan niệm về thể thơ lục bát và quan hệ dòng thơ lục và dòng thơ bát
  2. Cách hiểu thông qua AI (ít được nêu ra tại các bài giới thiệu về thể thơ Lục bát)

Câu lục (câu 6 chữ) thường có chức năng mở đầu, giới thiệu ý hoặc tình cảm, trong khi câu bát (câu 8 chữ) có chức năng phát triển ý, làm rõ nội dung, và thường kết thúc ý hoặc đoạn thơ.

Câu lục (6 chữ): ngắn gọn, súc tích, có thể là câu nêu vấn đề, câu đặt ra tình huống, hoặc câu gợi mở cảm xúc. Nó có vai trò như một nhịp cầu kết nối với câu bát tiếp theo, tạo sự liên kết và phát triển ý.

Câu bát (8 chữ): Câu dài hơn, có khả năng diễn đạt nội dung chi tiết, cụ thể hơn. Thường làm rõ ý của câu lục, mở rộng tình cảm, hoặc đưa ra những suy nghĩ, cảm xúc sâu sắc hơn. Nó cũng có thể là câu kết thúc một ý, một đoạn thơ, hoặc toàn bộ bài thơ lục bát.

Ví dụ: “Đêm trăng thanh …” (câu lục) – gợi mở không gian, thời gian, và cảm xúc. “… gió mát hiu hiu thổi ngoài hiên” (câu bát) – làm rõ thêm không gian, thời gian, và cảm xúc.

Trong một cặp lục bát, hai câu này không chỉ bổ sung cho nhau về mặt nội dung mà còn tạo ra nhịp điệu hài hòa, cân đối, góp phần làm nên vẻ đẹp đặc trưng của thể thơ lục bát.

  1. Quan niệm cặp lục bát là một câu, một cặp, một chỉnh thể không tách rời (?) và quan niệm câu thơ lục, câu thơ bát tách rời dẫn đến cách hiểu số câu trong Truyện Kiều là 1627 câu ( lục bát) hoặc 3254 câu lục và câu bát.

b1. Quan niệm cặp lục bát là một câu

Năm 1830, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng (1803-?) – Tham hiệp Thanh Hoa (Thanh Hoá), viết trong Kim Vân Kiều Án là ông đọc bản Kiều có 1575 câu: Mùa đông năm Canh Dần (1830) vì bị giam ở ngục, trọn ngày ngồi suông, không có gì để tả nỗi lòng, cho nên thường đọc truyện Kim Vân Kiều bằng quốc âm. Thật may mắn được biết những ngôn từ ấy. Nhưng nghĩ kỹ thấy trong 1.575 câu ấy, đầu cuối tiếp nhau, tả cảnh tả tình công phu tinh diệu…” 

Năm 1875, Trương Vĩnh Ký tuy không trực tiếp nêu vấn đề cặp thơ lục bát là một câu, một cặp, một chỉnh thể không tách rời nhưng qua cách thể hiện văn bản cho thấy cách hiểu đó khi không viết đầu dòng câu 8 (và không đánh số câu).

Năm 1930, Dẫn giải truyện Kim Vân Kiều – Huyền Mặc Đạo Nhân cũng cho thấy cách hiểu cặp lục bát là 1 câu (?) qua việc đánh số. Tuy nhiên, có sự khác với Trương Vĩnh Ký là đầu dòng 8 đã viết hoa.

Năm 1929, bản Kiều truyện dẫn giải của Hồ Đắc Hàm (Tư nghiệp Quốc Tử Giám) qua cách đánh số theo thứ tự câu (chỉ đánh số ở câu 8). Cho thấy cặp lục bát vẫn là một cặp ? Và câu thơ Kiều đã tách riêng theo thứ tự 1,2,3,4… cho tiện dẫn giải?

b2. Quan niệm cặp lục bát là gồm câu 6, câu 8 tách rời độc lập tương đối?

Năm 1911, Bản Kim Vân Kiều truyện của Trương Vĩnh Ký vẫn thể hiện cặp thơ lục bát là một câu, một cặp, một chỉnh thể không tách rời? Lưu ý: là bản này đã đưa phân đoạn, đặt tên chủ đề của đoạn vào thẳng mạch nội dung của Truyện Kiều

Năm 1913, bản Kim Vân Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh đã được viết hoa đầu dòng câu 8. Điều này có thể được hiểu là:

+ Đầu dòng các câu thơ lục và câu bát thì cần được viết hoa theo quy định chính tả (mới?).

+ Sau câu sáu vẫn đánh dấu phẩy, nhằm thể hiện còn nối ý cho câu sáu là câu 8?

Lưu ý: là bản này đã đưa phân đoạn, đánh số 1, 2, 3… cho đoạn vào thẳng mạch nội dung của Truyện Kiều

  1. Sau năm 1913, từ bản của Nguyễn Văn Vĩnh đến nay thì các bản Truyện Kiều luôn được viết hoa ở đầu dòng câu 8.

Liệu có phải quy định chính tả thống nhất là đầu thơ lục, đầu câu thơ bát thì phải viết hoa và nguyên tắc xuống dòng thì đầu câu phải viết hoa?

  1. Việc dùng dấu phẩy cuối câu 6 và dấu chấm cuối câu 8 có ý nghĩa gì?

Theo cách hiểu thông thường, việc sau câu 6 dùng dấu phẩy:

– Có chức năng nhằm để ngắt câu 6 và câu 8 về mặt hình thức của thể thơ lục bát?

– Dùng dấu phẩy để ngắt ý (nội dung) được triển khải, mở rộng và kết thúc ở câu 8?

Theo cách hiểu thông thường, việc sau câu 8 dùng dấu chấm:

Để kết thúc ý thơ của 1 cặp lục bát hoặc nhiều cặp lục bát.

Việc dùng dấu phẩy cuối câu 6 và dấu chấm cuối câu 8 vẫn có những vấn đề bất cập đặt ra khi việc quan niệm câu 6 và câu 8 có chức năng độc lập tương đối thể hiện qua chính tả – viết hoa đầu dòng câu 8 (nghĩa là “khác” với Trương Vĩnh Ký, không viết hoa đầu câu 8 và coi cặp lục bát là 1 câu, một chỉnh thể không tách rời ?).

  1. Việc không dùng dấu phẩy cuối câu 6 và dấu chấm cuối câu 8

Có thể nhận thấy sự bất cập nêu ở mục 3 nói trên là: Nếu hiểu cặp lục bát gồm 2 dòng thơ lục và dòng thơ bát (có sự độc lập tương đối) thì dường như dấu phẩy sau câu 6 và dấu chấm sau câu 8 trở nên không cần thiết trong việc trình bày và thể hiện chính tả?

Năm 1942 – 1943, Nhà in Alexandre de Rhodes đã thực hiện việc bỏ dấu phẩy cuối câu 6 và dấu chấm cuối câu 8 khi tái bản lại cuốn Kim Vân Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh như hình ở trên.

Cũng tương đương khoảng thời gian này là xu thế trình bày truyện thơ lục bát theo cách này là bỏ dâu phẩy sau câu 6 và dấu chấm sau câu 8 như “Phổ thông bán nguyệt san số 156 Avril 1945 của nhà in Tân Dân khi in Bích Câu kỳ ngộ dẫn giải của Nguyễn Đỗ Mục như ảnh bên.

  1. Việc thực hiện, thể hiện các dấu câu trong tiếng Việt trong các văn bản Truyên Kiều quốc ngữ.

Từ bản Kim Vân Kiều truyện của Trương Vĩnh Ký cho thấy các dấu trong tiếng Việt được sử dung như:

– Dấu phẩy: dùng ngắt ý trong các dòng thơ và dùng cuối câu 6

– Dấu chấm hỏi, chấm than: được dùng cuối câu 6 và câu 8

Dấu hai chấm:

+ Được dùng trong câu nhằm để giải thích, nêu ví dụ, liệt kê hoặc giới thiệu lời nói trực tiếp.

+ Được dùng cuối câu bát để cho thấy cặp lục bát sau đó giải thích, nêu ví dụ, liệt kê hoặc giới thiệu lời nói trực tiếp của câu lục bát trước.

Dấu chấm phẩy: được dùng cuối câu 8 để thể hiện ngắt ý, nôi dung trong câu ghép, chỉ sự tương phản hoặc liệt kê tiếp tục của các câu lục bát tiếp theo.

Dấu mở đóng ngoặc kép: dùng để dẫn lời nói, lời tự sự được tường thuật trực tiếp, thường hay dùng sau dấu hai chấm. Lưu ý, thời Trương Vĩnh Ký chưa sử dụng dấu này

Trong hầu hết các văn bản Truyện Kiều Quốc ngữ không dùng dấu chẩm lửng (…)(cũng có bản dùng dấu chấm lửng sau hai từ vân vân – Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân…) , dấu gạch ngang ( – ), dấu mở đóng ngoặc đơn [(.)] vì không có trường hợp nào cần đến dấu đó?.

5.1 Các bản Kiều sử dụng dấu chấm phẩy cuối câu 8.

Dấu chấm phẩy (;) được dùng cuối câu 8 để thể hiện ngắt ý, nôi dung trong câu ghép, chỉ sự tương phản hoặc liệt kê tiếp tục của các câu lục bát tiếp theo. 

Chỉ khác với bản Trương Vĩnh Ký in năm 1875 và 1913, các bản Kiều Quốc ngữ sau này đều viết hoa đầu dòng thơ bát và sử dụng tất cả các dấu như nói ở mục 5.

Chúng tôi lưu ý cacs bản sau đây dùng dấu chấm phẩy sau câu 8 như:

– Bản Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỷ – Trần Trong Kim in năm 1927 tại nhà in Vĩnh Hưng Long thư quán 51 Hàng Đường Hà Nội và bản tái bản in tại TÂN VIỆT 235, Phan thanh Giản – Saigon năm 1968 và tái bản do Nxb Văn hóa Thông tin ( Hà Nội) năm 1995.

– Bản Kiều truyện dẫn giải của Hồ Đắc Hàm (Tư nghiệp Quốc Tử Giám) in tại nhà Đắc Lập – Huế năm 1929

– Dẫn giải truyện Kim Vân Kiều – Huyền Mặc Đạo Nhân Năm in tại Tín Đức thư xã Sài Gòn, 1930

– Bản Vương Thúy Kiều của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu in tại nhà Hương Sơn, Hà Nội 1941

5.2 NGÀY NAY – Các bản Kiều KHÔNG sử dụng dấu chấm phẩy cuối câu 8

Ngày nay, phần lớn các bản Kiều quốc ngữ không con sử dụng dấu chấm phẩy sau câu 8, ví dụ vài cuốn như:

– Bản Truyện Kiều (Tiếng Việt – Tiếng Pháp – Tiếng Anh), phần văn bản của Nguyễn Khắc Viện do NXB Thế Giới in năm 2020.

Truyện Kiều (Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải), NXB Văn hóa Thông tin năm 2011

– Truyện Kiều (Bản Nôm của Hoàng gia triều Nguyễn) do Nguyễn Khác Bảo phiên âm. NXB Lao Động năm 2016.

  1. Xu hướng bỏ dấu phẩy trong các dòng thơ.

Nhiều quan điểm cho rằng: Thơ nôm không có dấu, người viết, viết theo cách nghĩ của mình, người đọc tự ngẫm, tự tiếp nhận. Người xưa cho rằng ” văn chương thiên cổ sự,đắc thất thốn tâm tri” (được thua mình biết thôi).Việc thêm chấm phẩy của người sau là định hướng chủ quan của họ, theo họ thì để nhiều người dễ theo dõi,dễ hiểu hơn, như thế là họ lái người đọc theo ý mình. Điều đó, e trái với quy luật tiếp nhận văn học?

Ví dụ câu 785 – 786: Rước nàng về đến trú phường / Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong.

Bản của Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim đánh dấu phẩy như sau: Bốn bề xuân khóa, một nàng ở trong. Còn bản của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã không đánh dấu phẩy. Việc đánh dấu phẩy ở câu bát này có thể làm giảm sự tiếp nhận văn học của độc giả.

Xu hướng bỏ các dấu phẩy ở các dòng thơ thể hiện ở cuốn Truyện Kiều (Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải), NXB Văn hóa Thông tin năm 2011. ( Xem hình bên và hình dưới)

  1. Việc chia đoạn Truyện Kiều

Có hai quan điểm cơ bản:

  1. Truyện Kiều là một nguyên khối, không cần chia đoạn. Việc chia đoạn làm giảm giá trị tiếp nhận văn học và làm vụn Truyện Kiều?
  2. Việc chia đoạn là cần thiết vì Truyện Kiều vốn bản thân có yếu tố truyện nên việc phân chia đoạn giúp độc giả nắm bát nội dung.

Ví dụ cho những bản Kiều Nôm phân đoạn như: bản Kim Vân Kiều hội bản được ghi dấu trên bìa năm 1894 (bản của Hoàng gia triều Nguyễn)

GS.TS Trần Đình Sử cho biết ông không phủ nhận cả hai giả thuyết đang được công bố. Tuy nhiên, ông nhìn nhận tác phẩm như một trường hợp nghiên cứu đặc biệt. Bởi lẽ, cuốn sách không chỉ vẽ đôi ba tranh minh họa như thường thấy mà vẽ liên hoàn tới 146 bức, theo sát nội dung 144 đoạn trong Truyện Kiều.

Việc đem Truyện Kiều nguyên khối tách ra 144 đoạn và đoạn nào cũng tạo thành “một câu chuyện nhỏ hoàn chỉnh” cho thấy sự đóng góp khác biệt của Kim Vân Kiều hội bản. Tác phẩm đã nhấn mạnh sự kỳ tài trong nghệ thuật sáng tác của Nguyễn Du, nhận ra sự nhuần nhuyễn trong thủ pháp nghệ thuật của đại thi hào dân tộc khi khiến người đọc tìm thấy trong câu chuyện lớn là chuỗi chuyện nhỏ. Đây là những nét đặc sắc mà nhiều nhà nghiên cứu hiện nay chưa để ý.

Thực tế, việc phân đoạn liên tục diễn ra từ năm 1911 như bản Kim Vân Kiều truyện do Trương Vĩnh Ký phiên. Mạc dù, Trương Vĩnh Ký năm 1875  đã không phân đoạn, nhưng sau này khi tái bản, nhà in đã phân đoạn như trình bày trên.

Bài viết khác

Tác giả: Kiều Học