TỔ TIÊN NGUYỄN DU – KẾT TINH MỐI TÌNH ĐẬM CHẤT NHÂN VĂN VÀ ĐÔI ĐIỀU VỀ CÔNG VIÊN VĂN HÓA – DU LỊCH TRÊN ĐẤT DÂN HÒA     NNC.  Đinh Thiên Hương

TỔ TIÊN NGUYỄN DU – KẾT TINH MỐI TÌNH ĐẬM CHẤT NHÂN VĂN

                                                               VÀ ĐÔI ĐIỀU VỀ CÔNG VIÊN VĂN HÓA DU LỊCH TRÊN ĐẤT DÂN HÒA

 

NNC.  Đinh Thiên Hương – Trưởng ban Kiểm tra Hội Kiều học Việt Nam

  1. Cây có cội, nước có nguồn, người có tổ tông:

“Người ta có tổ có tông / Như cây có cội, như sông có nguồn”. Tổ tông góp phần lý giải được nhiều điều về thể chất và tài năng, nhân cách và tâm hồn con người. Thiên tài Nguyễn Du (ND) cũng không nằm ngoài quy luật mang tính phổ quát đó.

  1. a) Cho đến nay, khi tìm hiểu về gốc tích tổ tông của ND, tuy còn đôi chỗ cần nghiên cứu tường minh và tranh biện kĩ càng hơn (ví như khởi thủy dòng tộc Nguyễn Tiên Điền cũng như nhiều chi phái họ Nguyễn khác có quan hệ gốc gác ra sao với Định quốc công Nguyễn Bặc (như chức Tể tướng thời nhà Đinh); với Danh nhân văn hóa – người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, với Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí, như ý kiến của GS. NGND Nguyễn Đình Chú, trong “Nguyễn Du thiên tài – vấn đề đã quen mà còn lạ”; hay là việc vì sao tổ tiên dòng tộc họ Nguyễn ấy, đàn ông thường có nhiều vợ sinh nhiều con cháu và phân chia ra làm nhiều chi nhánh, cư trú ở nhiều vùng đất khác nhau…). Nhưng có một điều được đồng thuận lớn, có chứng lý rõ ràng, là tổ tông dòng tộc Nguyễn Tiên Điền, khởi phát trực tiếp từ một chi phái ở làng Canh Hoạch (huyện Thanh Oai cũ), Thành phố Hà Nội. Trong sách “Lịch sử họ Nguyễn Tiên Điền”, học giả Lê Thước (1891-1975), có ghi: Họ Nguyễn ở Tiên Điền (huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), “nơi sinh ra đại thi hào Nguyễn Du có gốc họ Nguyễn, làng Canh Hoạch”. Tài liệu mới nhất đây, trong “Truyện Kiều – bản Tiên Điền”, (NXB Hội Nhà văn, quý 4-2025), Vương Trọng thay mặt Nhóm Biên soạn cũng đã viết trong: “Lời giới thiệu”: “Thủy tổ của họ Nguyễn Tiên Điền là ở làng Canh Hoạch (Cổ Hoạch), nay là làng Canh Hoạch, xã Dân Hòa, TP.Hà Nội. Đây là một dòng họ khoa bảng nổi tiếng. nhiều người làm quan to, điển hình là Nguyễn Thiến, cụ tổ chín đời của Nguyễn Du, đậu Trạng nguyên năm 1532 dưới triều Mạc Đăng Doanh. Năm 1601, cụ tổ bảy đời của ND là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm về ở Nghi Xuân, tính đến nay là 424 năm và hậu duệ lên đến hơn 6.000 người, sinh sống không chỉ ở Nghi Xuân mà trên nhiều vùng đất nước”.

Tổng hợp tài liệu của một số tác giả, như GS.NGND Nguyễn Đình Chú, GS. Nguyễn Lộc, GS. Đặng Thanh Lê, TS. Đinh Công Vĩ, nhà nghiên cứu Hoàng Khôi…trong một số công trình tiêu biểu, chúng tôi nhận thấy, báo cáo tham luận của PGS.TS Nguyễn Trung Vãn và Cử nhân Nguyễn Minh Tuấn trong kỉ yếu Hội thảo khoa học “Trở về cội nguồn Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du”(NXB Tri thức, HN 2025), có tựa đề: “Cội nguồn phát tích tổ nội và tổ ngoại của Đại thi hào ND” là có tính hệ thống, chuyên sâu, công phu và nhiều thông tin về vấn đề này.

Đất Canh Họach xưa gọi là Trang Cổ Hoạch, được chia làm 2 khu vực: Thượng và Hạ Trang Cổ Hoạch. Hạ Trang Cổ Hoạch có cụ Nguyễn Doãn Địch, đỗ Thám hoa thời Hồng Đức, 1481 và làm quan tới chức Thượng thư bộ Lễ…Cụ có người con trai thứ 2 là công tử Nguyễn Doãn Toại không may bị bệnh phong. Ngày xưa, đó là căn bệnh nan y, bị nghi ngờ là truyền nhiễm, bị kì thị, xa lánh; gia đình phải làm cho căn lều xa làng xóm để sinh sống, dưỡng bệnh. Theo truyền ngôn, công tử vốn thông minh, tài ăn nói, từng được con gái của cụ Nguyễn Bá Ký, em gái của Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng tên là Nguyễn Thị Hiền, đem lòng yêu quý. Nguyễn Đức Lượng sau này muốn táng cha trên mảnh đất có căn lều của công tử Toại, vì theo thầy địa lý, đấy là mạch huyệt tốt. Nhưng phía bên kia không nhượng bộ, đòi phải được tâm sự với cô Hiền một đêm mới thuận tình. Ông Lượng buồn bã, đem chuyện tỏ bày với cô em gái. Ai ngờ cô Hiền nhất trí tự nguyện, đêm ra gặp người thương mến của mình. “Đêm đó vào hạ tuần tháng 11 mưa phùn gió bấc, cô Hiền đội nón, xách đèn,một mình lặn lội ra lều tranh chuyện trò cùng công tử. Công tử Doãn Toại tuy bệnh tật, nhưng giao tiếp thể hiện tư chất thông minh, hiểu biết, tài đức.”[1] Nhưng không may, cuộc giao hoan như duyên tiền định đang mặn nồng, thì công tử Doãn Toại bị ngộ phòng đột tử. Ngay trong đêm ấy hai gia đình đều hay tin xấu, đã tính tới việc sáng mai cùng ra lo giải quyết hậu sự. Nhưng khi ra tới nơi, mối đã bồi thành đống lên thân thể của chàng công tử tài hoa yểu mệnh kia. Đúng là người tính không bằng trời tính. Một con rể do thiên táng, còn bố vợ thì người con trai Nguyễn Đức Lượng, cũng đành phải táng trong khu vực ấy, tuy không được “chính huyệt”, cũng được “huyệt bàng”.

Lại có thêm một thiên mệnh nữa. Ấy là sau cái đêm mây mưa nặng tình nặng nghĩa kia, tiểu thư Nguyễn Thị Hiền mang thai, rồi tới kì tới tháng “mãn nguyệt khai hoa”, sinh ra cậu con trai (1495), đặt tên là Đàm, húy là Thiến (tốt lành, xinh đẹp). Năm 6 tuổi, Nguyễn Thiến đã được cậu ruột là Nguyễn Đức Lượng (bác-anh ruột mẹ) nhận nuôi cho ăn học. Nguyễn Thiến sớm bộc lộ tư chất thông minh, được học thầy giỏi, lại càng uyên bác, mẫn tiệp hơn người. Cậu ruột đỗ Trạng năm 1514 (50 tuổi), dưới triều vua Lê Tương Dực; cháu ruột đỗ Trạng năm 1532 (37 tuổi), đời vua Mạc Đăng Doanh. Vậy là, cậu Trạng-cháu Trạng, hai thầy trò đỗ Trạng cách nhau 18 năm.

b). Có thể nói: Nguyễn Thiến là kết quả của một mối tình đặc biệt.

Thứ nhất đó là sự đơm hoa kết trái của đôi trai tài gái sắc, từng được học hành, dạy bảo có nề nếp. Họ là công tử-tiểu thư, đều có dòng giống tinh hoa; chứ không phải con nhà bình thường.

Thứ đến, họ có một mối tình câm, nhưng nồng nàn. Vì quan niệm và hạn chế về y khoa thời ấy mà căn bệnh của chàng trai bị kì thị, phải sống cách biệt với cuộc đời thường. Nhưng tình yêu giữa chàng Doãn Toại và nàng Nguyễn Thị Hiền vẫn như than ngún lửa, càng dập càng hừng, càng xa càng khao khát. Đến khi có sự cho phép gặp gỡ thì có khác gì mây mưa. Sự bùng phát trong đêm đông quấn quyện, giữa không gian tuyệt đối riêng tư ấy, kết nên giọt máu tinh anh tượng hình người.

Cuối cùng, chúng ta nhận thấy, đây còn là kết qủa của mối tình chan chứa nghĩa nhân, đầy vị tha của người con gái lương thiện. Chàng trai đức độ, hiền lành, tài hoa và cô gái giầu tình yêu thương, đã đến với nhau, khao khát nhau bằng tình yêu bấp chấp, vượt lên trên những lo sợ và khuôn phép. Trong quan niệm xa lánh của người đời, việc người con gái tận yêu, tận hiến kia cao đẹp, vị tha biết dường nào?! Trong bao nhiêu những trái ngang “chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, trong bao nhiêu “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, để hậu duệ Nguyễn Du sau này khái quát lên thành triết lý nhân sinh “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, không biết có cái trái ngang và tấm lòng cao đẹp của tiên tổ đã nói tới kia không?

Nguyễn Thiến thuở thiếu thời, được chăm lo, cho ăn học từ chính người mẹ giầu lòng thương người và người cậu ruột rộng tình chở che, đùm bọc, lại tài giỏi. Tư chất thông minh, chăm chỉ, được học thầy tốt, thì sau này công danh, thành đạt càng tấn tới. Âu cũng là dễ hiểu. Nguyễn Thiến mở đầu cho một chi phái mới ở đất Canh Hoạch và ở đất Tiên Điền, góp phần làm rạng danh quê hương, đất nước. Điều đó thể hiện bằng câu ca dân gian, rất đỗi tự hào: “Bao giờ Ngàn Huống hết cây / Sông Lam hết nước, họ này hết quan”.

  1. c) Chúng tôi tóm tắt, giản lược theo những nét lớn trong báo cáo khoa học của nhóm tác giả Nguyễn Trung Vãn, Nguyễn Minh Tuấn, từ Nguyễn Thiến trở về sau, thì cả cha, con cháu họ, tuy giỏi cả văn-võ, tuy được cả nhà Mạc và nhà Lê trọng dụng, nhưng đúng là có những biến cố, ly tán, trắc trở…Có một người con trai của Nguyễn Thiến là Nguyễn Miễn sinh được 5 trai, nhưng chính ông và 2 con trai bi sát hại. Người con trai khác tên Nguyễn Nhiệm “bị thương nằm vùi xác dưới lớp tử sỹ”, mới thoát thân. Ông phải cải trang, theo đường biển vào Hà Tĩnh “chọn bãi đất hoang bên hữu ngạn sông Lam, cách biển Xuân Thành hơn 4 km, cách Cửa Hội hơn 10 km làm nơi sinh cơ lập nghiệp và trở thành tổ phụ thứ nhất của dòng họ Nguyễn Tiên Điền”[2]. Từ đấy đời nối đời, dòng họ Nguyễn Tiên Điền nổi tiếng văn võ; hoạn lộ và khoa bảng, thảy đều hanh thông, thành đạt, huy hoàng rực rỡ, rạng danh nước nhà. Trong đó, có Nguyễn Du (1765-1820) là Đại thi hào, Danh nhân văn hóa thế giới.

Như vậy là từ Canh Hoạch đến Tiên Điền, trải qua bao biến cố của đời người, dâu bể của thế thời, nhưng vẫn là huyết mạch ấy. Cái “gen” nổi trội của dòng họ này vẫn luôn là tài hoa trác việt cả võ và văn, thành danh cả trên quan trường và trên sự nghiệp trước tác văn thơ, thi hành chính sự, hộ quốc an dân. Hào kiệt nhân tài đời nào cũng có. Có cả thiên tài rạng ngời giá trị nhân văn và văn hóa.

  1. Danh nhân văn hóa nhân loại Nguyễn Du là kết tinh đỉnh cao giá trị văn hóa- văn học- nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo của quê hương, đất nước. Cần phải lan tỏa hệ giá trị ấy bằng nền công nghiệp văn hóa. Vườn Văn hóa – Du lịch Nguyễn Du và Ttruyện Kiều mà Thành phố Hà Nội và quê hương Dân Hòa đã và đang tính tới là nằm trong kế hoạch tổng thể to lớn và hiệu quả đó.
  2. a) Theo Cơ quan văn hóa, truyền thông và thể thao nước Anh thì: “Công nghiệp văn hóa là các ngành công nghiệp sử dụng các sáng tạo, kĩ năng và trí tuệ nguyên gốc của các cá nhân, có tiềm năng tạo ra của cải vật chất dưới dạng hàng hóa có hàm lượng trí tuệ cao và tạo ra công ăn việc làm cho nhiều thế hệ”. Đó “là sự kết hợp giữa sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hóa, tạo thành các sản phẩm văn hóa, được bảo vệ bởi luật bản quyền”(UNESCO).
  3. b) Việt Nam có nhiều tiềm năng để trở thành một nền kinh tế có ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Vùng miền nào, địa phương nào cũng có thể tạo ra những sản phẩm văn hóa có hàm lượng trí tuệ cao, có bản sắc độc đáo, có thể cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á và vươn ra toàn cầu.

Nhận thức được điều đó, Chính phủ Việt Nam đã sớm có Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và xác định 12 ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, gồm: Quảng cáo, Kiến trúc, Phần mềm và các trò chơi giải trí; Thủ công mĩ nghệ; Thiết kế; Điện ảnh; Xuất bản; Thời trang; Nghệ thuật biểu diễn; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Truyền hình và phát thanh; Du lịch văn hóa.

Trong xu thế hội nhập sâu rộng và phát triển mạnh mẽ của thế giới, nhiều tiềm năng để xây dựng nền công nghiệp văn hóa ở nước ta đang chờ đánh thức và khai thác triệt để. Chúng ta  cần phát huy sức mạnh mềm của văn hóa, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kĩ thuật, công nghệ của thế giới. Nhiều địa phương trên đất nước ta đã kiên trì đầu tư và phát triển công cuộc này và bước đầu đã thu được nhiều kết quả về kinh tế-văn hóa và bài học kinh nghiệm…

  1. c) Chúng tôi được biết, quyết tâm cao của lãnh đạo TP Hà Nội, lãnh đạo Hội Kiều học VN, lãnh đạo xã Dân Hòa, Chi hội Kiều học HN và Hội đồng dòng họ Nguyễn Tiên Điền, đều hướng tới việc coi Nguyễn Du và sự nghiệp trước tác của Người là một thực thể văn hóa, là vốn liếng tiềm năng, để xây dựng những giá trị công nghiệp văn hóa. Công cuộc này vừa phát huy sức mạnh lan tỏa hệ giá trị tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Du, vừa tạo ra của cải vật chất làm giầu cho quê hương đất nước và công ăn việc làm bền vững cho các thế hệ (như định hướng và định nghĩa về công nghiệp văn hóa của UNESCO).

Chúng ta phải làm sao đó để Công viên văn hóa – Du lịch Nguyễn Du và Truyện Kiều trên quê hương Dân Hòa, của TP Hà Nội thực sự là một hình mẫu và phát huy hiệu quả toàn diện. Nơi đây phải thật sự là một không gian Nguyễn Du và Truyện Kiều, lưu giữ và tái hiện lại một cách sống động những gì đẹp nhất và quý giá nhất từ cuộc đời và tác phẩm của thiên tài, để người ta thăm thú, thưởng thức, sáng tạo…Và như thế, công viên văn hóa-du lịch sẽ đem đến cho cuộc sống con người những nguồn lợi to lớn bất ngờ, không chỉ về tinh thần mà còn có cả về vật chất…

Nhưng đó lại là công việc của các chuyên gia chuyên sâu. Tôi thật sự chưa dám lạm bàn.

 

Tháng 11. 2025

 

 

[1] PGS.TS Nguyễn Trung Vãn

[2]NNC Nguyễn Minh Tuấn (Tài liệu đã dẫn trong bài).

 

Bài viết khác

Tác giả: Kiều Học