BÀN THÊM VỀ TINH HOA THƠ LỤC BÁT TRONG TRUYỆN KIỀU VÀ CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LÀM THƠ LỤC BÁT NGÀY NAY – ThS. Đỗ Trung Minh     

 

BÀN THÊM VỀ TINH HOA THƠ LỤC BÁT TRONG TRUYỆN KIỀU

                                                             VÀ CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LÀM THƠ LỤC BÁT NGÀY NAY

                                                                                                                ThS. Đỗ Trung Minh – Phó Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam   

                                                                                          

  1. Đặt vấn đề

1.1. Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, lục bát không chỉ đơn thuần là một thể thơ truyền thống, mà là “vân tay văn hóa”, là hình thức biểu đạt cốt lõi cho tâm hồn và bản sắc của cộng đồng người Việt. Nếu như trong văn học dân gian, lục bát ban đầu tồn tại như một phương thức diễn xướng nguyên hợp, mộc mạc, nhưng cũng trác việt, tài hoa, thì đến thế kỷ XIX, với kiệt tác Truyện Kiều, Đại thi hào Nguyễn Du đã thực hiện cuộc cách mạng thẩm mỹ ở thể loại này một cách ngoạn mục và rất đáng nể trọng. Bằng thiên tài ngôn ngữ của mình, Nguyễn Du đã thanh lọc, bác học hóa và cũng cổ điển hóa thể thơ này, đưa lục bát đạt đến đỉnh cao chói lọi vô tiền khoáng hậu về cả cấu trúc nhạc điệu, thi pháp “ý tại ngôn ngoại”, lẫn khả năng bao chứa những tư tưởng nhân văn sâu sắc. Từ Truyện Kiều, lục bát chính thức bước vào hàng ngũ những thể thơ cổ điển có khả năng diễn tả mọi sắc thái cuộc sống và biểu đạt mọi góc khuất tinh vi nhất trong cấu trúc tâm lý con người.

Tuy nhiên, bước vào không gian văn học đương đại, vị thế và diện mạo của thơ lục bát đang đứng trước những biến động sâu sắc và toàn diện. Một mặt, dưới tác động của làn sóng hậu hiện đại và xu hướng toàn cầu hóa, sự bùng nổ của các thể thơ tự do, tân hình thức đang đẩy lục bát vào nguy cơ bị ngoại vi hóa, có nguy cơ trở thành một “di sản bảo tàng” tĩnh tại. Mặt khác, sự phát triển của các nền tảng truyền thông số đã tạo điều kiện cho một bộ phận lớn người làm thơ tiếp cận lục bát một cách dễ dãi. Hệ quả là sự xuất hiện tràn lan của hiện tượng “lục bát vè”, “thơ rác” – những tác phẩm chỉ thỏa mãn cấu trúc cơ học về vần tiếng (6/8) nhưng nhạt nhẽo, hời hợt về hàm lượng nghệ thuật, thiếu hụt tư tưởng và làm suy giảm nghiêm trọng tính trang nhã mà sâu sắc vốn có của thể thơ dân tộc.

Thực trạng này đặt ra vấn đề trách nhiệm mang tính căn cốt đối với đội ngũ sáng tác thơ lục bát đương đại: Làm thế nào để thơ lục bát vừa tiếp nối mạch nguồn tinh hoa của quá khứ, vừa kiến tạo được những giá trị mới phù hợp với tư duy của thời đại 4.0? Vì vậy, rất cần ” Bàn thêm về tinh hoa thơ lục bát trong Truyện Kiều  và  công việc của người làm thơ lục bát ngày nay” để giải quyết những đòi hỏi thực tế, cụ thể mà thực tiễn đề ra. Do đó bài viết này không chỉ có ý nghĩa nhận thức sâu thêm các giá trị kinh điển của Truyện Kiều, mà còn trực tiếp trao đổi, góp phần xác định rõ trách nhiệm cho người làm thơ hôm nay, trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thông qua thể thơ lục bát.

 

  1. Một vài ý kiến tìm hiểu và bàn thêm .

2.1. Kiệt tác Truyện Kiều – chuẩn mực kinh điển của thể thơ lục bát

*Tính bác học hóa ngôn từ dân gian

Trước Nguyễn Du, lục bát chủ yếu tồn tại trong ca dao (dùng để nói, hát, ru, ngâm). Ca dao có đặc tính mộc mạc, chân thành và chất khẩu ngữ. Nó gắn liền với tư duy sinh hoạt thường nhật trong cuộc sống lao động cần mẫn đa phần là “chân quê”. Chắc chắn là, thơ lục bát dân gian đã có trước Truyện Kiều rất lâu và không phải không có những viên ngọc lấp lánh. Đến Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thực hiện một cuộc “thanh lọc” và nâng cấp ngôn ngữ dân tộc trên quy mô lớn.

Nguyễn Du không loại bỏ chất liệu dân gian mà chọn lọc, gọt giũa chúng để đạt đến độ tinh mỹ, trang nhã, lấy đó làm nòng cốt cho lục bát trong Truyện Kiều. Đồng thời, Đại thi hào đã đan cài một cách tài tình hệ thống từ Hán Việt, điển tích, điển cố văn học Trung Hoa vào cấu trúc câu thơ lục bát mà không hề gây cảm giác sống sượng hay khiên cưỡng.

Ví dụ, khi khắc họa vẻ đẹp của Thúy Kiều, câu thơ: “Làn thu thủy nét xuân sơn / Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” là sự kết hợp hoàn hảo giữa thi liệu ước lệ cổ điển và cú pháp tiếng Việt uyển chuyển. Ngôn ngữ lục bát trong Truyện Kiều trở thành một thứ ngôn ngữ kết tinh, hàm súc tối đa, đạt đến trạng thái “không thể thêm, không thể bớt, không thể đổi”, duy nghĩa và đa nghĩa, biến một thể thơ bình dân thành ngôn ngữ văn học bác học chuẩn mực.

* Đỉnh cao của nghệ thuật phối thanh và tổ chức nhịp điệu

Thơ lục bát vốn đã uyển chuyển với các thanh điệu của tiếng Việt. ví dụ: “Gió đưa cành trúc la đà. Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương”. Nguyễn Du đã đưa nhạc tính của thể thơ lục bát lên mức tuyệt đối nhờ sự thấu suốt về luật phối thanh (bằng – trắc) và những biến tấu nhịp điệu bậc thầy. Trong cấu trúc lục bát truyền thống, sự phân bổ các thanh không và thanh huyền ở các vị trí tiếng thứ 2, 4, 6, 8 thường tuân thủ nghiêm ngặt để tạo sự nhịp nhàng. Nguyễn Du không chỉ làm chủ quy luật này mà còn biến hóa nó để tạo ra những hiệu ứng tâm lý phức tạp. Điều này không chỉ là minh chứng cho khả năng cảm thụ tiếng Việt tuyệt vời của Đại thi hào, mà Nguyễn Du còn tài hoa sử dụng tiếng Việt điệu nghệ như người múa kiếm dưới ánh trăng. Đáng chú ý, ông đã phá vỡ sự đơn điệu của nhịp chẵn (2/2/2 hoặc 4/4) truyền thống bằng cách sử dụng các nhịp lẻ (3/3, 1/5, 3/5) để diễn tả những trạng thái biến động, đổ vỡ trong nội tâm nhân vật. Ta thử đọc: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, hay là “ Khi chén rượu, khi cuộc cờ / Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” cho thấy cách ngắt nhịp và phối thanh đã không còn là một khuôn mẫu cơ học, Nguyễn Du đã trở thành một “nhạc trưởng” điều khiển dòng cảm xúc của độc giả, khiến câu thơ giàu sức gợi và vang vọng.

* Hệ hình tư tưởng và thi pháp “Ý tại ngôn ngoại”

Lục bát trước Truyện Kiều chủ yếu mạnh về tính tự sự (kể chuyện) hoặc trữ tình bột phát ngắn. Nguyễn Du là người đầu tiên chứng minh lục bát có thể gánh vác được những tư tưởng triết lý sâu sắc và diễn tả những xung đột nội tâm phức tạp nhất của con người. Bằng bút pháp “tả cảnh ngụ tình” bậc thầy, thiên nhiên trong Truyện Kiều không bao giờ là cảnh vật tĩnh tại mà là sự chiết xạ của tâm trạng: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Kỹ thuật “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) giúp mỗi cặp câu lục bát của Nguyễn Du mở ra những khoảng trống không gian và thời gian mênh mông, buộc người đọc phải suy ngẫm, đồng sáng tạo, nâng tầm lục bát thành thể thơ trữ tình – triết lý sâu sắc. Đó là những “mạch ngầm văn bản”, hoặc những nốt lặng suy cảm, đầy chất trữ tình ngoại đề.

2.2. Diện mạo Thơ Lục bát đương đại

* Nhìn lại những nỗ lực nghiên cứu, đổi mới cách tân thơ lục bát

Giá trị nghệ thuật và ngôn ngữ thơ lục bát trong Truyện Kiều của Nguyễn Du từ lâu đã là đối tượng trung tâm của giới nghiên cứu phê bình. Các công trình kinh điển của Phan Ngọc (Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, 1985) đã bóc tách tài tình kỹ nghệ sử dụng ngôn từ và cấu trúc câu thơ Kiều. Giáo sư Nguyễn Đình Chú (Nguyễn Đình Chú- Tuyển tập, tr 286-337, 2012), Giáo sư Trần Đình Sử (Thi pháp Truyện Kiều, 2002) cũng đã xây dựng một hệ thống lý luận vững chắc về không gian, thời gian và cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du qua lăng kính lục bát bác học. Nguyên An (2025) với Nghiên cứu Truyện Kiều-Ghi chú và ấn tượng đã gợi ra những giải pháp để khắc phục những hụt hẫng về lực lượng nghiên cứu, tiếp thụ tinh hoa Truyện Kiều lâu dài. Ở một hệ hình khác, diện mạo thơ lục bát đương đại cũng nhận được sự quan tâm qua nhiều bài viết, kỷ yếu hội thảo, nhằm đánh giá các xu hướng cách tân của các tác giả hiện đại. Các nhà thơ như Nguyễn Bính, Thế Lữ (Phong trào Thơ Mới 1932 – 1945) đã mang cái “tôi” cá nhân vào thơ lục bát. Nhịp điệu câu thơ được thả lỏng, uyển chuyển và mang hơi thở lãng mạn, đánh dấu sự thoát ly khỏi cấu trúc ước lệ phong kiến. Giai đoạn thập niên 1960 nổ ra nhiều cuộc thảo luận giữa các nhà thơ lớn. Xuân Diệu từng lên tiếng phản đối việc bẻ gãy hay phá vỡ hình thức lục bát, trong khi các tác giả khác như Phạm Thiên Thư bắt đầu thử nghiệm các biên độ nhịp điệu mới mẻ.  Sự phá cách của Nguyễn Duy (những năm 1970 – 1990) mang tính bước ngoặt, đưa lục bát bước vào kỷ nguyên hiện đại. Ông thực hiện cuộc “vắt dòng”, cắt ngang câu lục bát thành nhiều dòng, đan xen các dấu chấm câu lạ lẫm vào giữa mạch thơ. Thơ lục bát từ đây trở nên đa tầng, giàu triết lý và thế sự.

Hội thảo khoa học “Nhận diện thơ lục bát Việt Nam đương đại” đã được tổ chức nhằm đánh giá khách quan các tìm tòi cách tân. Hội thảo đã ghi nhận nhiều thủ pháp làm mới táo bạo của các nhà thơ đương đại

Tuy nhiên, một khoảng trống học thuật vẫn đang tồn tại: phần lớn các nghiên cứu hiện có thường tách rời thành hai thái cực — hoặc là đi sâu khảo cổ di sản Nguyễn Du, hoặc là phê bình thực trạng thơ đương đại một cách độc lập. Hiện chưa có nhiều công trình thiết lập một trục tọa độ lịch sử để nối liền hệ chuẩn mực của Truyện Kiều với ý thức trách nhiệm đạo đức và nghệ thuật của người làm thơ hôm nay. Bài báo này hướng tới việc khỏa lấp khoảng trống đó, bằng cách sử dụng đỉnh cao của Nguyễn Du làm hệ quy chiếu khoa học để soi chiếu và định hình sứ mệnh cho thơ lục bát đương đại.

Để có ý kiến góp vào việc tìm hiểu tinh hoa lục bát trong Truyện Kiều và trách nhiệm của người làm thơ lục bát hiện nay, chúng tôi vận dụng phối hợp các phương pháp cấu trúc – hệ thống để khảo sát thơ lục bát trong Truyện Kiều như một hệ thống cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh (vần, nhịp, phối thanh, thi liệu) và đối chiếu nó với hệ thống thơ lục bát đương đại;  phương pháp so sánh văn học để chỉ ra khoảng cách thẩm mỹ, những điểm kế thừa và cả những đứt gãy giữa nghệ thuật lục bát của Nguyễn Du và thực trạng sáng tác thơ lục bát hiện nay;  cũng cần sử dụng phương pháp xã hội học văn hóa để khảo sát hiện tượng “lục bát vè” và xu hướng sáng tác thời đại số dưới góc độ tác động của môi trường xã hội đối với tâm lý và trách nhiệm của người làm thơ lục bát.

* Những nỗ lực đổi mới và chuyển dịch

Trong không gian văn học đương đại, thơ lục bát vẫn chứng minh sức sống mãnh liệt thông qua những nỗ lực cách tân không ngừng của các tác giả hiện đại. Chúng ta từng chứng kiến các “cuộc vận động” mang tính tự thân, nhóm nhỏ nhằm đổi mới thơ lục bát nhằm ép nó bao chứa thêm các hình thức tư duy triết lí như các thể thơ tự do. Nhiều nhà thơ đã cố gắng thoát khỏi cái bóng quá lớn của lối viết cổ điển bằng cách thay đổi cấu trúc bề mặt của câu thơ. Họ đưa vào lục bát ngôn ngữ của đời sống hiện đại, hơi thở đô thị, thị trường, công nghệ với tư duy phân mảnh và thậm chí là những trải nghiệm tâm lý của con người thời đại số. Những thử nghiệm như xuống dòng tự do trong một câu lục bát (lục bát vắt dòng), thay đổi cách gieo vần bằng các vần nghịch, vần trắc đã mang lại cho lục bát một diện mạo mới, góc cạnh và đa dạng hơn, chứng minh thể thơ này vẫn có khả năng thích ứng với dòng chảy thời đại.

* Hiện tượng “Lục bát vè” và sự hạ thấp chuẩn mực nghệ thuật

Bên cạnh những tìm tòi nghiêm túc, thực trạng đáng báo động nhất của lục bát đương đại chính là xu hướng dễ dãi, nông cạn, dẫn đến hiện tượng “lục bát vè” hay “thơ rác” bùng nổ trên các nền tảng mạng xã hội hoặc trong một số sinh hoạt câu lạc bộ thơ. Với nhận thức rằng, thơ lục bát dễ làm, không phân biệt thế nào là thơ, thế nào là vè, là văn nói có vần theo hình thức 6/8, do vậy, nhiều người làm thơ hiện nay đang nhầm tưởng rằng chỉ cần viết đủ 6 chữ ở câu trên, 8 chữ ở câu dưới và đáp ứng đúng quy luật gieo vần cơ học là đã tạo thành một bài thơ lục bát. Sự lạm dụng này dẫn đến những bài thơ kể lể trần thuật nhạt nhẽo về tư tưởng, không tạo được liên tưởng, thô mộc về ngôn từ và hoàn toàn triệt tiêu nhạc tính.

Thể thơ đòi hỏi tính hàm súc, trang nhã bậc cao của Nguyễn Du đang bị kéo xuống thành công cụ để kể lể dông dài, diễn đạt những cảm xúc vụn vặt, tầm thường, đánh mất đi hoàn toàn tính thiêng và chiều sâu thẩm mỹ vốn có. Thơ lục bát tưởng dễ làm, nhưng để có câu thơ thực thụ nhiều ám ảnh, đọc mà giật mình, mà rưng rưng thì không hề dễ. Mặc dù, “lục bát vè” mới chỉ là hiện tượng, nhưng phải thấy đây là một nguy cơ nằm trong số đông người hưu trí làm lục bát trong các câu lạc bộ địa phương. Họ có nhu cầu chính đáng là giãi bày tâm sự, cảm xúc. Nhưng do nhận thức chưa đầy đủ về thơ nói chung, thơ lục bát nói riêng, họ dễ dãi bằng lòng với “thành phẩm 6/8” của mình, vui vẻ coi đó là thơ, lại được các hình thức in ấn thuận lợi hỗ trợ, ra vô số tập thơ cho tặng.

* Những hệ luỵ thẩm mỹ và ý thức kế thừa di sản

Hệ quả của sự dễ dãi nói trên là một vết đứt gãy sâu sắc giữa chuẩn mực cổ điển và thực hành đương đại. Một bộ phận lớn tác giả làm thơ lục bát hiện nay thiếu đi sự thụ nhận sâu sắc về mặt tri thức đối với di sản Truyện Kiều. họ không hiểu được bản chất của kỹ nghệ phối thanh, nghệ thuật chọn lọc nhãn tự (chữ mắt thơ), hay cách tổ chức nhịp điệu để tạo ra sức gợi. Sự đứt gãy này không chỉ khiến các tác phẩm lục bát đương đại trở nên ngô nghê, thiếu sức sống mà còn làm lệch lạc thị hiếu thẩm mỹ của công chúng. Khi người làm thơ lục bát không còn lấy hệ chuẩn mực của Nguyễn Du làm gương soi để nghiêm khắc với ngòi bút của mình, thơ lục bát sẽ tự đánh mất đi vị thế “quốc thi” và bị cô lập ngay trong đời sống văn học đương đại.

  1. Bàn thêm về trách nhiệm của người làm thơ lục bát hiện nay

3.1. Trách nhiệm thụ nhận và bảo tồn cốt cách di sản

Trách nhiệm đầu tiên và cốt lõi của người làm thơ lục bát đương đại là phải thiết lập một thái độ thụ nhận nghiêm túc, khoa học đối với di sản văn học dân tộc, mà đỉnh cao là Truyện Kiều. Nhà thơ hiện đại không thể sáng tác lục bát dựa trên thói quen tự thân thuần túy hay sự phóng túng cơ học, mà phải trang bị cho mình một “độ lùi tri thức” để thấu suốt các quy luật thi pháp kinh điển của Nguyễn Du.

Việc học tập Nguyễn Du không dừng lại ở việc thuộc lòng các câu thơ Kiều, mà là sự nghiên cứu sâu sắc về kỹ nghệ tổ chức ngôn từ, nghệ thuật chọn lọc “nhãn tự”, cách phối thanh để đạt đến nhạc tính tối đa và tư duy cấu trúc nhịp điệu. Ý thức được hệ chuẩn mực của Truyện Kiều chính là sở hữu một chiếc gương soi thẩm mỹ, giúp người làm thơ nghiêm khắc với ngòi bút của chính mình, biết tự thanh lọc những câu thơ dễ dãi, thô mộc, từ đó bảo vệ tính trang nhã và cốt cách thanh cao của thể thơ dân tộc, ngăn chặn nguy cơ lục bát bị “vè hóa”.

3.2. Về cách tân lục bát (sáng tạo trên nền tảng di sản lục bát)

Kế thừa di sản không đồng nghĩa với sự mô phỏng, sao chép hay nương bóng quá khứ một cách giáo điều. Trách nhiệm lịch sử của người làm thơ lục bát hôm nay là phải đem đến cho lục bát một “bộ gene” mới mang hơi thở của thời đại. Nguyễn Du đã thành công khi đưa tư duy trung đại vào lục bát; vì vậy, nhà thơ thế kỷ XXI cũng phải có sứ mệnh đưa tư duy hiện đại, hậu hiện đại và những trăn trở của con người thời đại số vào thể thơ này. Sự cách tân phải diễn ra một cách khoa học, tức là sáng tạo dựa trên quy luật nội tại của thể thơ chứ không phải sự thay thế không có căn nguyên, vô lối. Người làm thơ cần thử nghiệm các biên độ đề tài mới (sinh thái, đô thị, chấn thương tâm lý con người hiện đại, thực trạng và tốc độ số hoá xã hội…), làm mới hệ thống thi ảnh (thoát khỏi các ước lệ cổ điển như tùng, cúc, trúc, mai), và táo bạo trong kỹ thuật vắt dòng, ngắt nhịp biến hóa. Mục tiêu tối thượng của sự cách tân này là chứng minh rằng: Lục bát không phải là một hóa thạch của quá khứ, mà là một thực thể sống, một cấu trúc nghệ thuật mở, hoàn toàn đủ năng lực gánh vác các hệ tư tưởng, những nhận thức nhân tình thế thái đương thời và dòng cảm xúc phức tạp của con người hôm nay.

3.3. Nhiệm vụ giữ gìn văn hóa và định hướng thẩm mỹ cộng đồng

Trong kỷ nguyên số, khi ranh giới giữa văn học tinh hoa và văn nghệ quần chúng trở nên mờ nhòe, người làm thơ lục bát chuyên nghiệp phải gánh vác trách nhiệm định hướng thẩm mỹ cho công chúng. Đối diện với làn sóng “thơ rác” và “lục bát vè” đang lan tràn trên mạng xã hội, người nghệ sĩ không được phép thỏa hiệp hay im lặng. Họ phải là những người tiên phong sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao để “đinh hướng và định mức”, giúp công chúng gạn đục khơi trong, biết chọn lựa nhận diện và thưởng thức vẻ đẹp đích thực của lục bát chuẩn mực. Xa hơn nữa, đó là trách nhiệm quảng bá văn hóa đương đại ra thế giới. Thông qua các hình thức dịch thuật, giao thoa nghệ thuật (kết hợp lục bát với âm nhạc đương đại, hội họa), người làm thơ hôm nay có nhiệm vụ giới thiệu một diện mạo lục bát Việt Nam vừa mang chiều sâu nghìn năm của Nguyễn Du, vừa năng động, trẻ trung trong dòng chảy toàn cầu hóa.

Nhiều câu lạc bộ thơ quần chúng hiện nay, đáng mừng là đã có những cảnh tỉnh mạnh mẽ hiện tượng “thơ rác”. Họ tìm ra nhiều cách để khắc phục tình trạng thơ thô mộc, kể lể trần thuật, hô khẩu hiệu có vần…dễ dãi khi đặt bút, ghép vần. Họ liện kết và được các hội văn học nghệ thuật địa phương bảo trợ, cử các hội viên “có nghề” cùng sinh hoạt, trao đổi, uốn nắn từng bước; tổ chức các đợt tham quan học tập giao lưu làm thơ, vân vân. Phong trào thơ trong cộng đồng đang đứng trước một cuộc tự chỉnh sửa. Đây là tín hiệu đáng mừng.

Các Chi hội Kiều học Việt Nam có nhiều hội viên làm thơ lục bát. Thậm chí, có Chi hội kiều học chính là một Câu lạc bộ thơ lục bát; trong Hội Kiều học Việt Nam có Liên hiệp các câu lạc bộ thơ lục bát toàn quốc. Đây là nét mới của Hội và là tín hiệu phát triển đáng mừng về thơ lục bát trong thời gian gần đây.

  1. Lời kết

Kiệt tác Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du đã lập đỉnh trong lịch sử văn học dân tộc như một hệ chuẩn mực kinh điển, nâng thể thơ lục bát từ nguồn cội dân gian lên tầm tinh hoa bác học. Di sản ấy không phải là một bảo tàng đóng kín để hậu thế chỉ đến chiêm bái “kính nhi viễn chi”, mà là một mạch nguồn văn hóa không ngừng chảy, liên tục vẫy gọi các thế hệ sau tiếp nối và đồng sáng tạo.

Khảo sát diện mạo thơ lục bát đương đại cho thấy những chuyển dịch phức tạp: bên cạnh những tìm tòi cách tân nghiêm túc, giàu nội lực là sự xuất hiện đáng báo động của những biểu hiện đứt gãy thẩm mỹ, sự dễ dãi mang tính cơ học làm suy giảm giá trị của “quốc thơ”. Trong bối cảnh đó, việc đặt ra vấn đề trách nhiệm lịch sử của người làm thơ hiện nay trở thành một mệnh lệnh cấp bách.

Nghiên cứu khẳng định, trách nhiệm của người làm thơ lục bát hôm nay đối với Nguyễn Du bao gồm cả hai mặt biện chứng: bảo tồn cốt cách và dấn thân cách tân. Tiếp nối Nguyễn Du không phải là biến mình thành một bản sao mờ nhạt của quá khứ, mà là học tập tinh thần lao động chữ nghĩa nghiêm túc của ông để kiến tạo nên những cấu trúc lục bát mới, mang hơi thở và tư duy của thời đại hôm nay. Chỉ khi ý thức được sứ mệnh lịch sử đó, các nhà thơ đương đại mới có thể giữ cho ngọn lửa lục bát luôn cháy sáng, định vị vững chắc bản sắc văn học Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới.

                    

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyên An (2025) Nghiên cứu Truyện Kiều-Ghi chú và ấn tượng, Nxb HNV
  2. Nguyễn Du, Truyện Kiều (Bản tái bản khảo đính) (2015), NXB Văn học, Hà Nội.
  3. Phan Ngọc (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  4. Trần Đình Sử (2002), Thi pháp Truyện Kiều, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  5. Hội Nhà văn Việt Nam (2022), Kỷ yếu hội thảo: Thơ lục bát và các xu hướng cách tân trong văn học đương đại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

Bài viết khác

Tác giả: Kiều Học