Trong ”Kim Vân Kiều truyện“ của Thanh Tâm Tài Nhân, nói về „thằng bán tơ“, qua lời kể của Vương Ông với Thúy Kiều:
„ -Con ạ! Nguy lắm rồi, chồng dì con cho hai người khách bán tơ ở nhờ. Không ngờ họ là kẻ cướp, lúc bán tơ bị người mất của nhận ra, tố giác với quan, nó cứ nói chồng dì con là nhà oa tàng. Ta cùng họ dự mấy bữa tiệc, chỉ sợ bọn chúng cũng lôi mình vào để làm hại“.(Kim Vân Kiều truyện, Người dịch: Nguyễn Khắc Hanh và Nguyễn Đức Vân, NXB Đại học sư phạm năm 2000, trang 45).
Như vậy, ở đây không chỉ có một mà đến hai thằng bán tơ và thực chất là hai tên kẻ cắp. Vương Ông lại ngồi dự tiệc với chúng thì việc ông bị bắt để phục vụ cho công tác điều tra là không hề bị oan trái. Ngược lại, khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du nhắc đến „thằng bán tơ“chỉ có vẻn vẹn một câu lục bát:
Hỏi ra sau mới biết rằng:
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ
Nghĩa là phải hỏi mới nghe nói nó xưng thế, chứ không ai biết thực hư thế nào. Thế rồi cho đến khi Thúy Kiều ở trên đỉnh cao của quyền lực, nhân danh pháp luật để xử án, Kiều đã cho bắt tất cả những kẻ đã làm hại, đã hành hạ và sỉ nhục nàng để trị tội, thì không hề có „thằng bán tơ“ nào cả, mà đáng lẽ hắn là kẻ đầu tiên phải trừng trị. Vậy nên có thể kết luận, chẳng có „thằng bán tơ “ nào trong Truyện Kiều cả. Nhưng câu hỏi đặt ra là: vì sao đại thi hào lại bỏ nó ra?
Vào năm nào đó cuối thế kỷ trước, tôi có đọc một bài báo nói rằng, nhà thơ Hữu Loan giải thích việc Nguyễn Du chỉ có 2 câu lục bát về „thằng bán tơ“ là nhằm tố cáo chế độ thối nát. Chính quyền đối xử vói dân theo luật rừng. Nhà thơ Hữu Loan còn lấy ví dụ: chúng mình đang ngồi uống rượu bỗng có công an đến bảo: thằng bán tơ nọ tố các ông ăn trộm vàng, thì có khiếp không. Lúc đó tôi thấy cách giải thích này thật có lý và sắc sảo. Nhưng về sau, nghĩ kỹ lại, tôi thấy cách giải thích này chưa ổn, bởi vì ngay phần mở đầu của Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã viết:
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Nếu muốn tố cáo chế độ thối nát thì cớ sao lại ca ngợi vững vàng? Bởi vậy, Nguyễn Du bỏ „thằng bán tơ“ ra, hẳn vì một lý do khác – lý do nghệ thuật. Đại thi hào đặt nghệ thuật lên trên hết, nên khi viết Truyện Kiều thì cụ mới có những đắn đo thay đổi các nhân vật cũng như cốt truyện như vậy. Để lý giải điều này, chúng ta cần nhìn ra cả thế giới văn chương ở nước ngoài. Trước hết, ta hãy so sánh „thằng bán tơ“ trong Truyện Kiều với „ kẻ nào đó“ trong tác phẩm nổi tiếng „Vụ án“ của Franz Kafka (1883-1924). Mở đầu truyện „Vụ án“ Kafka viết:
„Chắc hẳn phải có kẻ nào đó đã vu oan cho Joseph K., bởi vì chẳng làm điều gì nên tội, thế mà một buổi sáng kia anh bị bắt“. ( dịch từ nguyên bản tiếng Đức Franz Kafka, Der Process, Herausgegeben von Michael Müller, Reclam 2007, trang 7)*.
Joseph K. là một thanh niên mới 30 tuổi, nhưng đã giữ một trọng trách trong một nhà băng, tương lai đang rộng mở, thị tự nhiên bị nhà chức trách cho người đến bắt. Thái độ của Joseph K. lúc đầu là „cây ngay không sợ chết đừng“. Nhân hôm tòa triệu tập, anh đã đến và trút cơn phẫn nộ lên những người có mặt ở tòa án, anh sỉ vả họ không tiếc lời. Nhưng càng về sau, anh càng thấy tính chất nghiêm trọng của vụ án, nên đã thuê luật sư, nhờ cậy người quen, song vẫn không sao ra khỏi vòng lao lý. Cuối cùng, Joseph K đã chán nản, để mặc cho số phận. Anh bị xử tử hình, mà đến lúc chết cũng không biết vì sao. „Kẻ nào đó“ đã vu oan cho Joseph K, chỉ được nhắc đến trong câu văn đầu tiên ấy, suốt chín chương còn lại không hề thấy Kafka nói đến nữa. Có thể nói „thằng bán tơ“ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đóng vai trò y hệt như „kẻ nào đó“ trong truyện „Vụ án“ của Kafka. Cả hai đều là kẻ gây ra tai họa cho nhân vật chính, nhưng lại có sự xuất hiện đầy huyền bí, mờ ảo.
Mùa hè năm 1925, có một cuộc triển lãm tranh ở thành phố Mannheim của nước Đức. Trong cuộc triển lãm ấy có những bức tranh diễn tả cảnh thanh bình, yên ả, nhưng phía sau lại như đang có một sự đe dọa sự bình yên ấy, hoặc có những bức chân dung tả khuôn mặt đầy nỗi lo âu, lại có những người đầy vẻ mãn nguyện như đang có sự may mắn. Franz Roh (1890-1965, người Đức), đã gọi những bức tranh ấy là tranh „Hiện thực huyền ảo“( Magical realism), dần dần khái niệm này cũng được dùng trong văn học. Đến giữa thế kỷ 20, nhiều tác phẩm viết theo thủ thuật „Hiện thực huyền ảo“ xuất hiện ở châu Mỹ la tinh, điển hình là các nhà văn Gabriel Garcia Marquez của Columbia; Jose Luis Borges, nhà văn Argentina… Ngày nay, „Hiện thực huyền ảo“ có mặt ở khắp nơi và không chỉ trong văn học mà cả trong hội họa, phim ảnh người ta đều sử dụng nó. Có thể giải nghĩa„Hiện thực huyền ảo“một cách nôm na rằng: Trong thế giới vật chất ta đang sống luôn tồn tại những cái mà con người bằng các giác quan của mình có thể nhận biết được, nhưng lại cũng có những cái mà con người không thể nhận biết (người ta gọi đó là siêu tự nhiên- supernatural), nó luôn ẩn mình ở đâu đó, đồng thời có ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Có lúc nó mang đến phúc hạnh, nhưng cũng có thể gây ra tai họa. Những sự việc xẩy ra từ nơi siêu tự nhiên thì ta không thể giải thích theo luật nhân quả hay phép biện chứng được. TRong những tác phẩm văn học nổi tiếng thế giới như „Trăm năm cô đơn“ của Marquez; „ Cái trống thiếc“ của G. Grass; „ Kafka bên bờ biển“ của Murakami Haruki… ta đều thấy có những chi tiết mang tính hiện thực huyền ảo. Mặc dù Franz Roh là người đặt tên cho thủ thuật này, nhưng người ta cho rằng Franz Kafka mới là cha đẻ của „Hiện thực huyền ảo“, vì ông viết các truyện „Hóa thân“, „Vụ án“ từ những năm 1914, 1915.
Nếu kể thêm những chi tiết như Đạm Tiên luôn xuất hiện trong những giấc mơ để báo trước số phận cho Thúy Kiều biết và sự việc đã xẩy ra đúng như vậy, ta có thể nói rằng, đại thi hào Nguyễn Du đã dùng thủ thuật này cả 100 năm trước Franz Kafka.
Nguyễn Cảnh Nhu