XƯNG HÔ CỦA THUÝ KIỀU VỚI NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG DUYÊN – NỢ TRONG ĐỜI (TỪ GÓC NHÌN LÍ THUYẾT HỘI THOẠI)-TS. Nguyễn Thị Thuận

 

XƯNG HÔ CỦA THUÝ KIỀU VỚI NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG DUYÊN – NỢ TRONG ĐỜI

(TỪ GÓC NHÌN LÍ THUYẾT HỘI THOẠI)

                                         TS. Nguyễn Thị Thuận

 (…)                                                        

  1. Đặt vấn đề

Trải qua hơn hai thế kỷ, Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du không chỉ khẳng định vị thế là một kiệt tác văn chương mà còn được coi là một “bảo tàng ngôn ngữ” của dân tộc. Tài năng của Nguyễn Du thể hiện rõ nét nhất ở việc sử dụng tiếng Việt một cách tinh tế, chuẩn mực nhưng cũng đầy biến hóa để khắc họa thế giới nội tâm nhân vật. Trong hệ thống ngôn từ đa dạng đó, phương tiện xưng hô đóng vai trò là một “mã văn hóa” và “mã nghệ thuật” quan trọng, giúp định vị các mối quan hệ xã hội và cá tính hóa nhân vật.

Trong giao tiếp, xưng hô không đơn giản là cách gọi tên mà là một chiến lược hội thoại phức tạp. Đối với nhân vật Thúy Kiều, hành trình mười lăm năm lưu lạc cũng chính là hành trình vận động của các kiểu mẫu giao tiếp. Nàng phải đối mặt với nhiều hạng người, trong đó, những người đàn ông mang tính chất “duyên – nợ” là những nhân tố trực tiếp làm thay đổi tâm thế và vị thế của nàng. Cách Kiều lựa chọn từ ngữ xưng hô với các nhân vật này không hề cố định mà biến đổi linh hoạt theo từng ngữ cảnh, mục đích và sự biến chuyển của các quan hệ liên nhân.

Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây thường tập trung thống kê xưng hô dưới góc độ từ vựng học tĩnh hoặc thi pháp học truyền thống. Việc đặt hệ thống từ xưng hô của Thúy Kiều vào dòng chảy của Lý thuyết hội thoại để giải mã các chiến lược giao tiếp động, như cách nhân vật bảo vệ “thể diện” hay thực hiện các “hành động nói”, vẫn chưa được khai thác một cách hệ thống và chuyên sâu.

Xuất phát từ thực tế đó, bài viết Xưng hô của Thúy Kiều với những người đàn ông duyên – nợ trong đời (Từ góc nhìn lý thuyết hội thoại)” hướng tới việc nhận diện và phân tích cách sử dụng các phương tiện xưng hô mà Nguyễn Du đã trang bị cho nhân vật chính. Thông qua việc soi chiếu mối quan hệ giữa Kiều với những người đàn ông duyên – nợ, bài viết không chỉ mong muốn giải mã sự tinh tế trong ứng xử của nhân vật mà còn góp phần khẳng định tài năng ngôn ngữ bậc thầy và cái nhìn nhân sinh sâu sắc của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

  1. Tổng quan nghiên cứu, cơ cở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Tổng quan nghiên cứu

Từ trước đến nay, ở góc độ nghiên cứu văn học, Truyện Kiều luôn là mảnh đất

màu mỡ cho nhiều nhà nghiên cứu khám phá về giá trị nhân đạo, thế giới nội tâm nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình. Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường thiên về phê bình văn học truyền thống, xem ngôn ngữ xưng hô là phương tiện để bộc lộ tính cách nhân vật mà chưa đi sâu vào cơ chế vận hành của chúng trong các cuộc hội thoại động dưới góc nhìn của ngôn ngữ học hiện đại.

Dưới góc độ ngôn ngữ, từ lâu Truyện Kiều đã là tâm điểm thu hút sự quan tâm của giới học thuật với nhiều hướng tiếp cận đa dạng. Đi tiên phong trong việc định lượng và giải mã từ vựng là học giả Đào Duy Anh. Với Từ điển Truyện Kiều [1], Đào Duy Anh đã khẳng định hệ thống ngôn ngữ của Nguyễn Du là một sự kết tinh mẫu mực, đạt đến độ chín muồi khi kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính bác học và tinh hoa dân gian. Đây là nguồn tư liệu quý giá giúp định lượng tần suất của các từ xưng hô.

Phan Ngọc trong Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều [6] đã nâng tầm nhận thức về ngôn từ của đại thi hào khi cho rằng mỗi từ xưng hô không bao giờ là ngẫu nhiên, mà luôn phản ánh một sự tự ý thức cao độ về vị thế xã hội và quan hệ liên nhân.

Đứng từ quan điểm chủ nghĩa hiện thực, Lê Đình Kỵ [4] nhấn mạnh tính biến hóa của lời thoại nhân vật, coi đó là tấm gương phản chiếu sự vận động của tâm lý và hoàn cảnh.

Trần Đình Sử [7] dưới góc nhìn thi pháp học đã chỉ ra rằng ngôn ngữ đối thoại của Kiều mang tính ‘đa thanh’, phản ánh sự tự ý thức sâu sắc về vị thế của nhân vật trong từng chặng đường lưu lạc. Dù thiên về thi pháp học, nhưng cuốn sách này đã dành thời gian lớn phân tích ngôn ngữ như một công cụ kiến tạo thế giới nghệ thuật. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên hoặc chưa đề cập tới vấn đề xưng hô, hoặc mới thống kê các đơn vị xưng hô đơn lẻ thường mang tính tĩnh, chưa đặt chúng vào lý thuyết hội thoại để thấy rõ “chiến lược giao tiếp” của nhân vật.

Trong những thập kỷ gần đây, hướng nghiên cứu ngôn ngữ học thuần túy dần chuyển sang hướng tiếp cận ngữ dụng và thi pháp hiện đại.

Trong cuốn Ngôn ngữ Truyện Kiều [8], một công trình chuyên sâu dưới góc nhìn của ngôn ngữ học hiện đại, nhà ngôn ngữ học Đào Thản chỉ rõ Nguyễn Du đã khai thác triệt để sức mạnh của các từ ngữ xưng hô để xác lập khoảng cách và thái độ giữa các nhân vật; mỗi lần Kiều thay đổi cách gọi mình hay gọi người chính là một lần cấu trúc hội thoại được tái lập dựa trên những biến đổi của ngữ cảnh.

Mặc dù các nhà nghiên cứu trên đã đặt những viên gạch lý thuyết quan trọng cho việc nghiên cứu giá trị ngôn ngữ của Truyện Kiều. Nhưng việc tập trung chuyên biệt vào hệ thống từ xưng hô của Thúy Kiều đối với nhóm đối tượng nam giới cụ thể dưới sự soi chiếu của lý thuyết hội thoại động vẫn còn là một khoảng trống đáng kể.

Bài báo này kế thừa kết quả của các bậc tiền bối đi trước nhưng chọn một hướng tiếp cận khu biệt: không chỉ dừng lại ở việc thống kê các đơn vị từ vựng tĩnh, mà đặt cách xưng hô của Thúy Kiều vào dòng chảy của lý thuyết hội thoại hiện đại. Qua việc soi chiếu các mối quan hệ với những người đàn ông duyên – nợ trong đời, bài viết giải mã cách thức Kiều sử dụng từ xưng hô như một chiến lược giao tiếp tinh tế, từ đó khẳng định thêm tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc cá tính hóa nhân vật qua ngôn từ.

2.2. Cơ cở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Bài viết được xây dựng trên nền tảng của Ngữ dụng học hiện đại, tập trung vận dụng các lý thuyết then chốt của Lý thuyết hội thoại.[2;3;5;9] Cụ thể, tác giả dựa vào ba trụ cột chính: Lí thuyết về chiếu vật và chỉ xuất như nền tảng trực tiếp của việc phân tích xưng hô; Lý thuyết Hành động nói của J.L. Austin và J. Searle để phân tích cách xưng hô của các nhân vật tham gia giao tiếp; Lý thuyết về vai giao tiếp và chiến lược giao tiếp, lấy đó làm cơ sở để xem xét cách lựa chọn từ xưng hô.

Về phương pháp nghiên cứu, bài viết sử dụng cách tiếp cận liên ngành (Ngôn ngữ học – Văn học) với các phương pháp chính: Phương pháp Phân tích diễn ngôn để đặt các từ xưng hô vào ngữ cảnh cụ thể của từng cuộc thoại; Phương pháp So sánh – Đối chiếu để làm rõ sự khác biệt trong việc sử dụng từ xưng hô với từng người đàn ông duyên – nợ trong đời của Thuý Kiều. Ngoài ra bài viết còn sử dụng thủ pháp Thống kê – Phân loại để định lượng các từ xưng hô mà Kiều dùng cho những người đàn ông này.

  1. Nội dung nghiên cứu và kết quả

Gia đình gặp tai biến, Kiều phải bán mình để chuộc cha và em. Rồi từ đó, lênh đênh góc bể chân trời, kiếp phong trần của đời Kiều tuy có chặng thăng hoa, nhưng nhìn chung nếm đủ mùi đau khổ: “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.  Những người đàn ông Kiều gặp trong đời không ít. Tuy nhiên có tám người thực sự là duyên – nợ của cuộc đời nàng. Tính theo thứ tự xuất hiện trong cuộc đời nàng có thể kể là Kim Trọng, Mã Giám sinh, Sở Khanh, Thúc sinh, Bạc Hạnh, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, viên Thổ quan. Trong tám người này chỉ có ba người: Kim Trọng, Thúc sinh, Từ Hải là duyên; còn lại năm kẻ là nợ. Tám người đàn ông này đến với nàng bằng những hoàn cảnh và động cơ khác nhau, tạo nên những dấu ấn trong cuộc đời khác nhau. Do đó, nàng cũng dành cho họ những thái độ ứng xử và tình cảm không giống nhau. Điều này thể hiện rõ qua cách sử dụng chiến lược xưng hô của Kiều đối với từng nhân vật.

          3.1. Các phương tiện xưng hô của Thúy Kiều với những người đàn ông duyên – nợ

Chưa có điều kiện đối chiếu với các văn bản khác, tác giả chỉ xin chọn phần Phụ lục  (Phần Văn bản Truyện Kiều) trong Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh làm văn bản khảo sát. Khảo sát 3254 câu thơ trong văn bản trên, có thể tổng hợp được các phương tiện xưng hô (PTXH) mà Kiều đã dùng với những người đàn ông duyên-nợ và cách phân bố các PTXH của Kiều với từng người này bằng bảng sau:

Bảng tổng hợp phương tiện xưng hô của Thuý Kiều

với những người đàn ông duyên nợ

 

Nhân vật Vị thế xã hội Quan hệ với Kiều Phương tiện XƯNG TSSD và tỉ lệ % (Xưng) Phương tiện HÔ TSSD và tỉ lệ % (Hô)
Kim Trọng Nho sĩ, trí thức Tình nhân, tri kỷ Thiếp (3 lần), thân, trẻ thơ, vườn hồng, mình. 7 (26.9%) Chàng (4 lần), Kim lang (2 lần), quân tử (3 lần), hoa (3 lần), tri âm, chim xanh. 14 (45.2%)
Từ Hải Anh hùng, chủ tướng Ân nhân,

Tri kỉ, chồng

Thiếp, thân bèo bọt, cỏ nội, hoa hèn, bồ liễu, gan óc. 8 (30.8%) Chàng, người, lượng cả, mây hồng, bóng cây, sấm sét, trời mây. 7 (22.6%)
Thúc Sinh Thương nhân Ân nhân,

Chồng (lấy làm lẽ)

Thiếp (2 lần), tôi, người cũ, ta, đôi ta. 6 (23.1%) Chàng. (8 lần) 8 (25.8%)
Sở Khanh Kẻ lừa đảo Kẻ lừa gạt Tôi, mặt này. 2 (7.7%) Người, mặt ấy. 2 (6.4%)
Hồ Tôn Hiến Quan đại thần Kẻ thù/Kẻ áp chế Tôi. (3 lần) 3 (11.5%) 0 (0%)
Mã Giám Sinh Kẻ buôn người Kẻ mua – Người bán 0 (0%) 0 (0%)
Bạc Hạnh Kẻ buôn người Kẻ lừa gạt 0 (0%) 0 (0%)
Viên thổ quan Quan địa phương Chồng (do gán) 0 (0%) 0 (0%)
26 (100%) 31 (100%)

                                                              Chú thích : TSSD viết tắt của Tần suất sử dụng.      

            – Kết quả khảo sát cho thấy sự phong phú trong phương tiện biểu đạt: có đôi lần Thuý Kiều dùng cách nói trống không, (không sử dụng từ xưng hô), nhưng khi sử dụng từ xưng lại khá đa dạng, phong phú, và linh hoạt. Cụ thể có 17 phương tiện dùng để xưng và 13 phương tiện dùng để hô, với TSSD khác nhau: xưng sử dụng 26 lần, hô sử dụng 31 lần. Như vậy tổng TSSD từ để xưng và hô là 57. Khác với xưng, Kiều không dùng đại từ để hô gọi.Ngoài việc sử dụng đại từ và danh từ xưng hô, những từ vốn không dùng để xưng hô lại được Kiều sử dụng với tần suất cao nhất (31/57 lần, chiếm 54,4%). Đây cũng là nét khá đặc biệt biểu hiện tài hoa của Nguyễn Du trong cách sử dụng ngôn từ.

– Mặt khác, bảng khảo sát cho thấy Thuý Kiều phân hóa rõ rệt phương tiện xưng hô với từng nhân vật nam: Trong khi Kim Trọng chiếm tỉ lệ cao nhất (45.2%) với ngôn từ trân trọng, thì Từ Hải lại chiếm tỉ lệ xưng cao nhất (30.8%) qua sự tự hạ mình, thể hiện đỉnh cao của sự tri kỷ và tôn kính. Với Thúc Sinh, TSSD từ xưng hô khá cân đối (xưng: 23,1%; hô: 25,8%). Lời lẽ mang tính khuôn mẫu. Với Sở Khanh, TSSD từ xưng hô sụt giảm hẳn (xưng: 7,7%; hô: 6,4%). Lời lẽ trung tính và dằn mặt. Riêng với Hồ Tôn Hiến, Kiều chỉ có xưng không có và xưng với một tần suất rất thấp (11,5%) và cũng chỉ dùng duy nhất một đại từ “tôi”, để tạo khoảng cách. Đặc biệt với Mã Giám sinh, Bạc Hạnh, Viên thổ quan, TSSD từ xưng hô bằng không, ở đây tuyệt nhiên không hề có sự tương tác. Sự lựa chọn từ xưng hô và cách phân bố từ xưng hô với từng nhân vật nam này nằm trong chiến lược xưng hô của nàng. Điều này sẽ được xem xét sâu hơn trong mục 3.2 dưới đây.

3.2. Chiến lược xưng hô của Thúy Kiều trong các quan hệ giao tiếp với những người đàn ông duyên – nợ

Chiến lược xưng hô là việc người nói chủ động lựa chọn các từ ngữ xưng hô một cách linh hoạt nhằm thiết lập, duy trì hoặc thay đổi vị thế và mối quan hệ với người nghe để đạt được một mục đích giao tiếp cụ thể.

Lí thuyết hội thoại đã chỉ rõ: các phương tiện xưng hô là những biểu thức quy chiếu người tham thoại trong phát ngôn; có rất nhiều nhân tố chi phối, ảnh hưởng đến việc lựa chọn các PTXH trong giao tiếp [3; 9]. Để tạo ra một chiến lược xưng hô, Thúy Kiều thường dựa trên 3 yếu tố then chốt: vị thế xã hội, khoảng cách tâm lý, ngữ cảnh giao tiếp. Chiến lược xưng hô của Thuý Kiều là một “ma trận ngôn từ” mà nàng sử dụng để điều khiển các mối quan hệ xã hội. Nó không cố định mà biến thiên liên tục theo nhịp đập của tâm lý và hoàn cảnh.

Việc chủ động lựa chọn và phân bố từ xưng hô của Thuý Kiều với những người đàn ông này đã hình thành nên ba nhóm đối tượng cụ thể với TSSD phương tiện xưng hô cũng rất khác nhau ( xem bảng tổng hợp ở mục 3.1 trên)

+ Nhóm đầu tiên (nhóm giao tiếp nồng nhiệt) gồm Kim Trọng, Từ Hải, Thúc sinh, ba người đàn ông quan trọng nhất của đời nàng. Nhóm này có TSSD từ xưng hô cao nhất, với tổng tỉ lệ chiếm gần 80 – 90% toàn bộ hệ thống từ xưng hô. Điều đó cho thấy, Kiều chỉ thực sự “giao tiếp” bằng tâm hồn với những người nàng coi là tri kỷ hoặc ân nhân. Ở nhóm này, các phương tiện xưng hô khá đa dạng, ngoài các PTXH quen dùng, nàng mở rộng sang các hình ảnh ẩn dụ: vườn hồng, thân bèo bọt, hoa hèn, bóng cây…, cho thấy khi yêu hoặc khi mang ơn, ngôn ngữ của Kiều đạt đến độ thẩm mỹ và tính biểu cảm cao nhất.

+ Nhóm tiếp theo (nhóm giao tiếp đối phó) gồm Sở Khanh – Hồ Tôn Hiến. Nhóm này, các cột chỉ số sụt giảm mạnh. PTXH  co cụm lại ở những từ ngữ trung tính như: Tôi, Người. Số liệu cho thấy ở đây có sự “tiết kiệm” lời nói. Khác với nhóm trên, nhóm này, Kiều giao tiếp mang tính đối phó. Nàng chỉ nói đủ để tồn tại hoặc để giữ thể diện tối thiểu. Riêng với Hồ Tôn Hiến, chỉ số bằng 0 cho thấy sự khinh bỉ tột độ hoặc sự câm lặng của một nạn nhân trước kẻ thù.

+ Nhóm cuối cùng (nhóm vô ngôn) gồm Mã Giám sinh  – Bạc Hạnh – Viên thổ quan. Điểm nổi bật của nhóm này là các cột chỉ số hoàn toàn trống không. Các PTXH với các nhân vật này đã hoàn toàn biến mất. Việc Kiều không sử dụng phương tiện xưng hô với các nhân vật này có thể được xác định như một chiến lược không xác lập quan hệ giao tiếp, qua đó phủ nhận tính chính danh của đối phương trong quan hệ tương tác. Sự im lặng của Kiều hoặc là biểu thị một sự từ chối xác nhận sự tồn tại của đối phương trong thế giới tâm hồn của mình, hoặc là một sự khinh bỉ tột độ. Nàng không cho phép những kẻ buôn người hay những quan lại vô cảm bước vào không gian ngôn ngữ tình cảm của mình. Kiều chỉ xem đó là những đối tượng ngoài lề của dòng cảm xúc.Như vậy, sự “im lặng xưng hô” không chỉ là biểu hiện tâm lí nhân vật mà còn là một lựa chọn chiến lược trong tổ chức quan hệ giao tiếp. Qua con số thống kê, có thể thấy rõ quy luật: Tình cảm càng sâu sắc, ngôn ngữ càng phong phú; nhân cách càng đối lập, ngôn ngữ càng thưa vắng, xa cách.

– Không chỉ cho thấy TSSD từ xưng hô trong từng nhóm khác nhau, chiến lược xưng hô

của Thúy Kiều trong các quan hệ giao tiếp với những người đàn ông này còn cho thấy sắc thái biểu cảm của nàng khi sử dụng từ xưng hô với từng loại đối tượng cũng rất khác biệt:

+ Với Kim Trọng, PTXH luôn mang sắc thái trân trọng và đồng điệu. Nàng dùng các từ ngữ hoa mỹ, đài các: Kim lang, quân tử, tri âm, thể hiện sự trân trọng tuyệt đối dành cho mối tình đầu tri kỷ.

+ Với Từ Hải, PTXH luôn biểu hiện sự sùng bái và biết ơn: Cách xưng hô biến hóa từ sự nhún nhường của một kẻ chịu ơn: thân bèo bọt, hoa hèn đến sự ngưỡng mộ một anh hùng: sấm sét, trời mây. Các từ hô như lượng cả, mây hồng cho thấy Kiều không chỉ coi Từ Hải là chồng mà còn là một vị cứu tinh, một lý tưởng sống.

+ Với Thúc Sinh, PTXH luôn mang tính thực tế và nghĩa tình: Cách xưng hô có phần giản đơn và “đời” hơn: tôi, ta, người cũ. Dù có danh phận là chồng, nhưng cách dùng từ cho thấy mối quan hệ này nặng về “nghĩa” và sự trả ơn hơn là sự thăng hoa về tâm hồn như với Kim Trọng.

+ Với Sở Khanh và Hồ Tôn Hiến, PTXH luôn mang sắc thái đề phòng và xa cách: Việc sử dụng các từ trung tính: tôi, người cho thấy Kiều đã dựng lên một bức tường ngăn cách. Ở đây không có tình cảm, chỉ có sự giao tiếp bắt buộc hoặc sự khinh miệt kín đáo.

+ Với Mã Giám sinh, Bạc Hạnh, Viên thổ quan, PTXH thể hiện sự khinh miệt và khước từ giao tiếp: Chỉ số 0% về phương tiện xưng hô đối với nhóm người này trong bảng thống kê là minh chứng cho một khoảng lặng đầy khinh miệt trong ngôn ngữ của Thúy Kiều. Về tâm lý, sự câm lặng này phản ánh trạng thái tê liệt cảm xúc và thái độ khước từ giao tiếp tuyệt đối: nếu với Mã Giám Sinh và Bạc Hạnh là sự ê chề của một “món hàng” bị định giá, thì với Viên thổ quan là sự uất nghẹn của một nhân cách bị cưỡng ép. Kiều đã triệt tiêu tư cách chủ thể đối thoại để thể hiện sự phản kháng ngầm, không chấp nhận thiết lập bất kỳ mối quan hệ danh xưng nào với những kẻ đại diện cho sự lừa lọc và chà đạp nhân phẩm.

Sự đối lập trong ngôn ngữ xưng hô của Kiều chính là thước đo chính xác nhất cho biểu đồ tâm lý và thái độ nhân sinh của nàng: Nếu với các ân nhân và tri kỷ, Kiều sử dụng hệ thống từ ngữ phong phú, giàu sắc thái biểu cảm thì với kẻ thù và kẻ lừa đảo, ngôn ngữ ấy lập tức bị tước đoạt, biến đổi, hoặc câm lặng tuyệt đối. Sự tương phản cực đoan này cho thấy Kiều không hề nhu nhược. Nàng sử dụng ngôn ngữ như một công cụ để phân định giá trị làm người: tôn trọng bậc chính nhân quân tử và dùng sự im lặng làm vũ khí khinh miệt trước những kẻ tiểu nhân đê tiện.

Chiến lược xưng hô đã chứng minh Kiều là người phụ nữ thông tuệ, biết “tùy người, tùy cảnh” mà lựa chọn ngôn từ, thể hiện sự sắc sảo, tự trọng và cũng là một người cực kỳ tinh tế trong giao tiếp. Ở mỗi hoàn cảnh, với mỗi đối tượng, nàng tự điều chỉnh “vị thế” của mình để phù hợp với đạo đức và hoàn cảnh lúc đó.

Xin lấy một vài trường hợp cụ thể làm minh chứng.

Trước hết là việc dùng đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số ít “tôi”.

          Kiều không dùng nhiều lần từ tôi để tự xưng. Nàng chỉ sử dụng có năm lần với ba đối tượng khác nhau nhưng cung bậc tình cảm và chiến lược xưng hô cũng rất khác biệt.

Lần thứ nhất với Sở Khanh: Rằng:“Tôi bèo bọt chút thân [câu 1097], mới gặp Sở Khanh lần đầu, chưa quen thân, nên Kiều dùng từ tôi để tự xưng là một cách xác định quan hệ rất đúng mực.

Lần thứ hai với Thúc sinh: Trăm điều ngang ngửa vì tôi [câu 1345]. Xin thưa, trước đó Kiều đã dùng thiếp để xưng với Thúc sinh nhưng lúc này nàng lại thay đổi chiến lược xưng hô, thay vì xưng thiếp Kiều lại xưng tôi. Việc xưng tôi lần này không phải bị chi phối bởi quan hệ thân sơ như với Sở Khanh mà bị tình huống giao tiếp chi phối. Đó là lúc Thúc sinh muốn “tính cuộc vuông tròn” với Kiều. Và nàng đã đủ từng trải để dự liệu được tất cả những rủi ro có thể đến. Dùng từ tôi với Thúc sinh lúc này là nàng đã chủ động đẩy Thúc sinh ra xa một chút để tạo một khoảng cách khách quan, một cách lựa chọn xưng hô đầy lí trí và tỉnh táo. Đây không phải là cách tự xưng với thái độ khiêm nhường, mà là cách nói chắc nịch, mang tính khẳng định dứt khoát của một chủ thể không chấp nhận trái ngang, hệ lụy.

Lần thứ ba, bốn, năm, Kiều dùng để xưng với Hồ Tôn Hiến. Với Hồ Tôn Hiến, Kiều dùng ba lần nhưng với các sắc thái không giống nhau. Lần thứ nhất dùng để khẳng định, ngợi ca và có phần chiêu tuyết cho Từ Hải: Tin tôi, nên quá nghe lời [câu 2551].Trước một người có vị thế xã hội quá chênh lệch (quan Tổng đốc trọng thần/ với vợ của một tội đồ – nghịch tặc đã chết), Kiều đã bất chấp, ngang nhiên ngợi ca Từ Hải. Nàng khẳng định con người bách chiến bách thắng này chết không phải vì kém tài Hồ Tôn Hiến mà vì quá tin vợ. Và lần thứ hai, thứ ba, nàng dùng: Sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi! [câu 2560].

 Tôi là đại từ xưng hô trung hoà về sắc thái biểu cảm, thường được dùng với những người ngang hàng hoặc người trên đối với kẻ dưới. Vậy mà Kiều lại dám dùng từ đó để xưng với Hồ Tôn Hiến, một quan tổng đốc trọng thần của triều đình và lại dùng với một tần suất cao nhất. Nhân tố chi phối việc lựa chọn từ tôi xưng hô lần này không chỉ dựa trên biến số quyền lực, khoảng cách xã hội mà phụ thuộc mạnh mẽ vào tình huống giao tiếp. Chính sự lừa dối tráo trở của Hồ Tôn Hiến, sự day dứt ân hận vì quá nông nổi tin người của mình đã gián tiếp đẩy Từ vào chỗ chết, khiến Kiều bất chấp, không còn biết sợ. Cách xưng hô ấy đã nâng vị thế của nàng lên ngang hàng Hồ Tôn Hiến và hạ thấp vị thế của Hồ Tôn Hiến xuống ngang tầm với mình. Với cách xưng hô này, người đọc thấy được một phẩm chất kiên cường của nàng.

Vậy là, khi chưa xác lập quan hệ thân mật (Sở Khanh), khi cần tạo khoảng cách trong giao tiếp (Thúc Sinh), hay khi nhân vật ở trạng thái xung đột quyền lực (Hồ Tôn Hiến), nàng chỉ dùng một đại từ tôi trong xưng hô ấy thôi, nhưng sắc thái biểu cảm cũng có sự biến đổi khôn lường.

Tiếp đến là việc dùng cặp từ xưng hô thiếp – chàng.

Đây là cặp từ xưng hô được Kiều sử dụng nhiều nhất và chỉ được sử dụng với Kim Trọng, Thúc sinh, Từ Hải, nhưng tần suất và cách ứng xử cũng không hoàn toàn giống nhau.

Với Kim Trọng, (không tính màn độc thoại trao duyên), phải sau 15 năm lưu lạc, gặp lại, nàng mới dám xưng thiếp gọi Kim là chàng: Thiếp từ ngộ biến đến giờ [câu 3097], Đã hay chàng nặng vì tình  [câu 3105].

Trong buổi đầu gặp gỡ, với vị thế của một người con gái mới lớn, trong giao tiếp, dù tình trong như đã mặt ngoài còn e nhưng Kiều chưa dám tự xưng là thiếp và gọi Kim Trọng là chàng. Nàng chỉ dùng từ trẻ thơ để xưng và từ hoa, tri âm để gọi Kim Trọng: Nặng lòng xót liễu, vì hoa/ Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa! [câu 335-336], hoặchoa nên phải đánh đường tìm hoa [câu 442]. Đặc biệt, Kim Trọng là người duy nhất được Thuý Kiều gọi là quân tử. Trong Truyện Kiều, ba lần Thuý Kiều gọi Kim Trọng là quân tử. Hai lần đầu là khi mới gặp gỡ, Kim Trọng nhặt được thoa của Thuý Kiều, nàng nói: Ơn lòng quân tử sá gì của rơi [câu 308] hoặc khi Kim Trọng tỏ tình, Kiều nói: Đã lòng quân tử đa mang [câu 351]

Lần thứ ba sau mười lăm năm lưu lạc, nàng vẫn lại dùng từ quân tử để gọi Kim Trọng: Là nhờ quân tử khác lòng người ta [câu 3182]. Cái đáng nói ở đây là lần đầu tiên và lần cuối cùng Kiều đều dùng từ quân tử để gọi Kim Trọng. Đủ thấy, từ đầu đến cuối, hình ảnh Kim Trọng trong trái tim nàng không hề thay đổi. Có thể thấy trong các cuộc thoại với Kim Trọng, Nguyễn Du đã xây dựng một hệ thống từ xưng hô đầy tính văn hóa. Kiều yêu Kim Trọng bằng sự tự nguyện, nên cách xưng hô của Thuý Kiều với Kim Trọng không chỉ để định danh mà còn để kiến tạo một không gian tình yêu lý tưởng giữa hai tâm hồn đồng điệu. Chiến lược xưng hô ở đây không phải là kỹ thuật xã giao mà là biểu hiện của một tình yêu tri kỷ, nơi cái tôi của nhân vật được soi chiếu và nâng cao qua cái nhìn của đối phương.

Thúc sinh lại khác, chàng gặp Thuý Kiều trong chốn lầu xanh. Say vì sắc, trọng vì tài trước còn trăng gió sau ra đá vàng.Vị thế giao tiếp của nàng lúc này khác xa với khi ở bên Kim Trọng. Do đó, Kiều không có cái e ấp của mối tình đầu, nàng gặp Thúc sinh trong lúc mình đã ong qua bướm lại đã thừa xấu xa mà vẫn được Thúc sinh yêu, cứu thoát khỏi chốn lầu xanh và cưới làm vợ. Đối với Kiều, Thúc sinh là ân sâu, nghĩa nặng. Vả lại, vai giao tiếp của hai người khi gặp nhau không quá chênh lệch (khách làng chơi với gái làng chơi), điểm này khác với Kim Trọng và càng khác xa với Từ Hải, có lẽ vì thế chăng mà Thuý Kiều xưng hô thiếp – chàng với Thúc sinh có phần thoải mái hơn. Hai lần nàng tự xưng là thiếp, tám lần gọi Thúc sinh là chàng, và cũng chỉ dùng duy nhất một từ chàng để gọi: Nàng rằng:“Vâng biết ý chàng [câu 1315]; Hoạ vần, xin hãy chịu chàng hôm nay [câu 1320]. Thiếp như hoa đã lìa cành/ Chàng như con bướm lượn vành mà chơi [câu 1325-1326] … Không chỉ xưng hô thiếp – chàng, Thuý Kiều còn hay sử dụng đại từ ở ngôi thứ nhất ngôi gộp để xưng: Đôi ta chút nghĩa đèo bòng [câu 1509], Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta [câu 1964], để biểu thị tình cảm thân mật, gắn bó, sâu nặng.

Khác với Kim Trọng và càng khác với Thúc sinh,Từ Hải là một đấng anh hùng hào kiệt, hạng người khác thường, côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài, đã cứu Kiều thoát khỏi lầu xanh lần thứ hai, lấy nàng làm vợ. Từ Hải cũng là người duy nhất có khả năng xoay chuyển cuộc đời nàng từ vị trí gái lầu xanh trở thành nhất phẩm phu nhân, giúp nàng đền ơn, báo oán, rửa sạch mọi oan khiên trên cuộc đời. Đối với Kiều, Từ Hải chính là một bậc quân vương toả sáng, xua đi mọi tủi nhục, tăm tối, đem lại hạnh phúc tươi sáng cho cuộc đời nàng. Rõ ràng vị thế xã hội của Từ Hải khác xa vị thế xã hội của Kim Trọng và Thúc sinh. Do đó chiến lược xưng hô của Kiều cũng rất khác. Với Từ Hải, cặp từ xưng hô thiếp – chàng chỉ được sử dụng duy nhất một lần. Đó là lúc Từ Hải sau nửa năm sống với Kiều, lại muốn bay nhảy tung hoành khắp nơi để tạo lập sự nghiệp: Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng/Chàng đi, thiếp cũng quyết lòng xin đi [câu 2218]. Do khác nhau về vị thế xã hội nên trước Từ, Kiều luôn cảm thấy nhỏ bé. Vì vậy, nàng luôn dùng những từ khiêm nhường mang tính ước lệ để xưng: thân bèo bọt; cỏ nội; hoa hèn; day cát; bồ liễu… Rộng thương cỏ nội hoa hèn/Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau! [2197- 2198] và thay vì dùng từ chàng để hô, Kiều lại hay sử dụng những từ ngữ ước lệ mang tầm vóc vũ trụ biểu thị uy quyền tối thượng để hô gọi Từ Hải: Thưa rằng: “Lượng cả bao dong/ Tấn dương được thấy mây rồng có phen [câu 2195 – 2196]. Sử dụng cách xưng hô trên chính là sử dụng chiến lược tôn vinh vị thế “chúa tể “ của Từ Hải. Với Từ Hải, Kiều luôn xưng khiêm,tôn. Nàng càng hạ mình bao nhiêu, tầm vóc người anh hùng của chồng nàng càng lớn lao bấy nhiêu.

Với Sở Khanh, ngay cả khi hắn hứa: Nàng đà biết đến ta chăng/ Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi! [câu 1104], Thuý Kiều cũng chỉ gọi là người mà không gọi là chàng: Nàng rằng: “Muôn sự ơn người  [câu 1105]. Có thể thấy, với Sở Khanh, ban đầu nàng xưng hô rất mực lễ phép vì hy vọng được cứu, nhưng khi nhận ra bộ mặt thật, thái độ và cách xưng hô của nàng liền chuyển sang trạng thái tự vệ hoặc khinh bỉ, thậm chí dằn mặt. Với kẻ bạc tình, trở mặt này, Kiều không xưng hô thiếp – chàng mà là mặt ấy, mặt này: Đem người đẩy xuống giếng khơi/ Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay!/ Còn tên tích việt ở tay/ Rõ ràng mặt ấy, mặt này chớ ai? [câu 1184]. Việc Kiều sử dụng cặp từ xưng hô Mặt này – Mặt ấy khi đối diện với Sở Khanh (sau khi bị lừa ở lầu Ngưng Bích) là một cách sử dụng ngôn ngữ sắc sảo của Nguyễn Du. Nó không đơn thuần là cách gọi, mà là một cuộc “tổng sỉ vả” bằng ngôn từ. Kiều không gọi Sở Khanh là chàng mà chỉ đích danh cái mặt – nơi thể hiện sự liêm sỉ của con người. Cách gọi này hàm ý một sự khinh bỉ tột độ. Cặp từ Mặt này (tôi) và Mặt ấy (anh) tạo ra một khoảng cách vật lý và tâm lý cực lớn: Nó phủ định hoàn toàn mối quan hệ “ân nhân – nạn nhân” hay “nam – nữ” mà Sở Khanh đã dày công dàn dựng trước đó. Kiều đặt mình và hắn ở hai chiến tuyến. Mặt này đã thấu rõ mặt ấy. Không còn chỗ cho sự mập mờ, lừa lọc. Khi Kiều tự xưng là mặt này, nàng không còn là cô thiếu nữ yếu đuối nữa mà thể hiện cái tôi đầy bản lĩnh và cay đắng. Trong xã hội phong kiến, phụ nữ thường xưng thiếp, hoặc tôi một cách nhún nhường. Việc Kiều dùng Mặt này – Mặt ấy là một sự phản kháng ngôn ngữ. Nó phá vỡ quy chuẩn lễ giáo để trở về với ngôn ngữ đời thường đầy gai góc. Nó cho thấy Kiều dù ở bước đường cùng vẫn có một sự kiêu hãnh và khả năng phán xét sắc bén. Nàng có thể bị lừa về hành động, nhưng khi đã nhận ra, nàng “đánh” đối phương bằng chính ngôn từ trần trụi nhất. Cách dùng từ mặt cho thấy một Thúy Kiều rất “đời”, rất mạnh mẽ và không hề dễ bị khuất phục về mặt tinh thần.

Như vậy, có thể thấy, trong cùng một nhân vật hay giữa các nhân vật khác nhau, Kiều đều có thể thay đổi cách xưng hô thể hiện sự dịch chuyển vị thế. Chiến lược xưng hô của Thuý Kiều khi thì tự hạ thấp dùng để cầu lụy, bày tỏ lòng biết ơn hoặc thể hiện sự khiêm nhường, khi lại tự nâng cao dùng để khẳng định phẩm giá. Phân tích chiến lược xưng hô của Thúy Kiều, giúp thấy rõ thêm tính cách nhân vật: Kiều là người sắc sảo, tinh tế, am hiểu lễ giáo nhưng cũng rất quyết liệt. Qua cách xưng hô, có thể  thấy một Thúy Kiều đa diện: lúc là một thiếu nữ đa tình, lúc là một người vợ đoan trang, khi là một người đàn bà nếm trải đắng cay, và có lúc là một nạn nhân đầy phẫn uất. Sự thay đổi cách xưng hô phản ánh những thăng trầm, tủi nhục mà Kiều phải trải qua; đồng thời càng thấy rõ giá trị nhân đạo của tác giả: Nguyễn Du đã cho Kiều quyền được “lên tiếng” và sử dụng ngôn ngữ như một vũ khí để bảo vệ nhân phẩm.

Dưới góc nhìn của lý thuyết hội thoại, cách xưng hô của Kiều là một thực thể động, tỉ lệ thuận với sự biến chuyển về vị thế xã hội và tâm thế nhân sinh. Nguyễn Du đã vượt xa các tác giả đương thời khi không để nhân vật xưng hô theo một khuôn mẫu tĩnh tại của lễ giáo phong kiến mà ông luôn “thổi hồn” vào các từ xưng hô để chúng mang những rung động xúc cảm khác biệt.

Nghệ thuật ngôn ngữ Nguyễn Du qua cách xưng hô còn là sự dung hòa giữa cái “cao cả” và cái “bình dị”. Ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. Ông sử dụng các điển cố và từ Hán Việt trang trọng (Kim Lang, Quân tử, lượng bể…), những từ ngữ có tính chất ước lệ (vườn hồng, chim xanh, mây hồng, sấm sét… ) để nâng tầm mối quan hệ lên mức lý tưởng. Đồng thời, ông vận dụng tài tình những đại từ thuần Việt (tôi, ta, mình,…) để tạo nên sự gần gũi, ấm áp và chân thực cho các cuộc đối thoại.

Qua cách biến đổi xưng hô của Thúy Kiều, chúng ta không chỉ thấy Nguyễn Du với tư cách là một nhà thơ mà còn thấy bóng dáng của một nhà Ngữ dụng học. Ông không mô tả tính cách bằng những lời thuyết minh khô khan, mà để nhân vật tự bộc lộ bản sắc của mình thông qua việc “ứng biến” ngôn từ trong những cuộc thoại định mệnh. Đây chính là yếu tố cốt lõi giúp nhân vật Thúy Kiều sống động và có sức sống vượt thời gian.

  1. Kết luận

Thông qua việc khảo sát và phân tích hệ thống từ xưng hô của Thúy Kiều với những người đàn ông duyên – nợ dưới ánh sáng của lý thuyết hội thoại, bài viết cho thấy cách xưng hô không đơn thuần là những danh xưng tĩnh tại mà sống động đầy biến ảo. Tuỳ từng nhân vật, từng tình huống, Kiều có cách xưng hô khác nhau. Sự biến đổi linh hoạt các phương tiện xưng hô với từng nhân vật không chỉ phản ánh sự nhạy bén của Thuý Kiều trước các ngữ cảnh giao tiếp khác biệt, mà còn là minh chứng hùng hồn cho tài năng sử dụng tiếng Việt bậc thầy của Nguyễn Du. Đại thi hào đã biến những từ xưng hô đời thường thành những tín hiệu nghệ thuật sắc sảo để khắc họa trọn vẹn bản lĩnh văn hóa và tâm thế nhân sinh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Việc vận dụng các lý thuyết Ngữ dụng học hiện đại vào Truyện Kiều một lần nữa khẳng định sức sống vượt thời gian của tác phẩm, mở ra những hướng tiếp cận mới trong việc giải mã các giá trị ẩn chìm đằng sau những con chữ của đại thi hào dân tộc./.

                                

   TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Đào Duy Anh (1974), Từ điển Truyện Kiều, NXB KHXH.
  2. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở Ngữ dụng học, NXB ĐHSP.
  3. Đỗ Hữu Châu – Đỗ Việt Hùng (2008), Giáo trình Ngữ dụng học, NXB ĐHSP.
  4. Lê Đình Kị (1970), Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, NXB KHXH
  5. Đỗ Thị Kim Liên (2005), Giáo trình Ngữ dụng học, NXB ĐHQGHN
  6. Phan Ngọc(1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, NXB KHXH
  7. Trần Đình Sử (2002), Thi pháp Truyện Kiều, NXBGD, HN
  8. Đào Thản (1998), Ngôn ngữ Truyện Kiều, NXB KHXH
  9. Nguyễn Thị Thuận (2014), Giáo trình Ngữ dụng học, NXB ĐHSP

Bài đăng trên Tạp chí Khoa học, Tr. Đại học Hải Phòng 2026

 

 

Bài viết khác

Tác giả: Kiều Học