SỨC SỐNG TRUYỆN KIỀU
TRONG MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH
Nhà Nghiên cứu, ThS. Vũ Ngọc Khôi
Hệ tư tưởng Hồ Chí Minh lâu nay được các nhà nghiên cứu gọi là Minh triết Hồ Chí Minh. Minh triết Hồ Chí Minh được biểu hiện ở chỗ luôn gắn bó những truyền thống dân tộc như đề cao đạo lý làm người, đề cao những phẩm chất nhân văn mà hạt giống là các yếu tố như tình thương, lòng biết ơn tổ tiên, tình đồng bào… Minh triết Hồ Chí Minh hướng tới nhân dân, để nhân dân cùng cảm nhận được, từ đó thành cơ sở tiếp thu những cái mới, những cái tiến bộ. Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không đem lý thuyết xa vời để tuyên truyền giải thích cho nhân dân mà thường khai thác những kiến thức nhân dân đã có sẵn rồi bổ sung, biến hóa thêm những nội dung mới khiến họ tiếp thu không chút ngỡ ngàng. Hồ Chí Minh thường vận dụng ca dao, tục ngữ…và đặc biệt, thường vận dụng Truyện Kiều để tạo ra niềm cộng cảm đó.
Dân ta có một thú chơi thanh nhã là lẩy Kiều, đố Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều… bởi Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành một giá trị trong đời sống tinh thần người Việt. Nguyễn Du là nghệ sĩ của nhân dân vì ông đã nói được một cách sâu sắc những điều mà nhân dân quan tâm bằng chính tiếng nói của nhân dân – thôn ca sơ học tang ma ngữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một hòa nhập rất linh động để chuyển tải những “rượu mới” bằng những chiếc “bình” quen thuộc.
Đọc Kiều, ai cũng cảm thông với nỗi lòng Thúy Kiều suốt 15 năm trời lưu lạc là cô đơn, là nhớ nhà, nhớ quê, nhớ người yêu, nhớ người thân. Nhưng khi vận Kiều thì Hồ Chí Minh đã nâng cái tình rất cụ thể ấy thành một thứ tình cảm cao hơn, đó là tình yêu với quê hương, đất nước, ý thức về sự đền ơn đáp nghĩa quê hương. Tư tưởng, nội dung mới được Hồ Chí Minh gửi gắm qua những câu thơ văn Kiều, hoặc là một chi tiết, một ý, một vài từ, ngữ, hình ảnh, thậm chí mượn nguyên cả câu thơ Nguyễn Du.
Hồ Chí Minh cũng rất chú ý tới đối tượng nên từng lúc, từng không gian cụ thể, Người chọn lối diễn đạt khác nhau. Ở đoạn thơ tâm sự với Trần Phú là tâm sự giữa cá nhân với cá nhân, Người dùng Kiều nhằm tạo một sự liên tưởng qua những hình ảnh, những từ ngữ thiên về yếu tố bác học:
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
Khi về thăm quê, đối tượng nhiều thành phần hơn, Hồ Chí Minh lại vận Kiều bằng cách diễn đạt trực tiếp và hơn thế còn mở rộng khái niệm nghĩa tình:
Chúng ta đoàn kết một nhà
Ấy là nghĩa nặng, ấy là tình sâu
Vận dụng Kiều để gây không khí vui vẻ, thân thiết nhằm chuyển tải những tư tưởng mới, những tình cảm hiện đại, Hồ Chí Minh luôn có cách “ứng vạn biến”, chẳng hạn, có thể thay đổi cấu trúc câu nhưng vẫn giữ trọn ý vì dân tộc. Vẫn nói về tình cảm đất nước, Người viết:
Còn non còn nước còn người
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay
Thì ý trên là Kiều, ý dưới là lời dặn dò, hứa hẹn, là khẩu hiệu hành động của dân tộc. Câu thơ không hề tạo ngỡ ngàng, trái lại cho ta một sự thích thú. Trước đó, năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Hồ Chí Minh xúc cảm:
Đảng ta vĩ đại như biển rộng núi cao
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao tình
Đáng chú ý là ở câu thơ vận Kiều này có chỗ hơi khác với một câu cũng được nói là của Bác Hồ:
Công ơn Đảng như bể rộng núi cao
Ba mươi năm ấy biết bao nhiêu tình
Chúng tôi thiên về câu thơ mở rộng cấu trúc bởi câu này vừa nói được cái lớn lao vĩ đại, vừa cho thấy cả một quá trình phấn đấu gian lao. Đương nhiên từ đó mà thấy công lớn của Đảng. Câu thơ sau có phần thật thà!
Ở bài thơ Cảm ơn người tặng cam, Hồ Chí Minh chân thành bày tỏ “nhận thì không đúng, từ làm sao đây”. Quả thực, Người chưa tìm được lý do để nhận quà, nhưng từ chối thì e chưa thuận tình bởi đó chỉ là một món quà giản dị. Nhưng từ cái tưởng như bất cập ấy, Người đột ngột vận Kiều, vận dụng lối nói dân gian:
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai
Giống như Nguyễn Trãi xưa luôn ý thức: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”, Hồ Chí Minh đã có một sự đáp lễ rất đúng lúc, đúng chỗ, hợp cả lý cả tình. Chưa dừng ở đó, câu thơ còn gợi một ý mang tính quy luật: khổ tận, cam lai. Bài thơ không chỉ là lời cảm ơn tới một cá nhân cụ thể nữa. Câu thơ vận Kiều làm sáng thêm một chân lý.
Với bạn bè gần xa, Hồ Chí Minh cũng rất nhiều lần mượn Truyện Kiều để bày tỏ tình cảm. Cái Minh triết của Người trong những lời nói bằng thơ đó là bộc lộ mối tình rất sâu đậm, sự ứng xử văn hóa và đậm dấu ấn cá nhân.
Hồi đón Tổng thống Sukarno của Indonesia, Hồ Chí Minh cũng vận Kiều:
Bây giờ mới gặp nhau đây
Mà lòng đã chắc những ngày thanh niên
Câu thơ cho thấy không chỉ hiện tại, mà từ nhiều năm trước đó, Hồ Chí Minh đã có một sự trân trọng đặc biệt với Sukarno. Chắc chắn đây không phải là cách nói ngoại giao bởi nhắc tới thời thanh niên của một người, là nhắc đến một thời của những kỳ vọng tuổi trẻ, thẳng thắn, trung thực, khát khao cống hiến. Đến câu thơ buổi tiễn đưa
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm
thì càng thấy sự quyến luyến chân tình lại phù hợp với cảnh máy bay cất cánh. Quả thật Truyện Kiều đã góp phần đoàn kết quốc tế trong ứng xử Hồ Chí Minh.
Có một vấn đề khá lý thú trong Minh triết Hồ Chí Minh khi vận dụng Kiều là vấn đề gắn với nhân quyền.
Vấn đề nhân quyền là khát vọng thiêng liêng, bền bỉ của loài người. Ở phương Tây, phải qua rất nhiều hy sinh mất mát người ta mới làm cho xã hội nô lệ sụp đổ để nô lệ giành được quyền làm người. Ở Việt Nam, vấn đề này trước năm 1945 chưa được đề cập nhiều. Nhưng có lẽ Nguyễn Du là người đầu tiên đã để nàng Kiều xót xa về cái cá nhân: Giật mình lại thương mình xót xa. Hồ Chí Minh đồng cảm với Nguyễn Du và đã từng mượn Kiều để trực tiếp phát biểu về vấn đề nhân quyền. Xem vở diễn Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Người bình luận:
Một đời Sơn Bá Anh Đài
Chữ tình đáng trọng, chữ tài đáng thương
Chỉ vì ông già dở dở ương ương
Làm cho đôi lứa uyên ương không thành
Đánh cho phong kiến tan tành
Cho bao nhiêu Anh Đài, Sơn Bá sẽ được thành lứa đôi
Với sáu câu thơ vận Kiều, Hồ Chí Minh đã chỉ ra được rất nhiều nội dung gắn với con người: mỗi cá nhân đều có những hoàn cảnh, những khả năng riêng (chữ tình, chữ tài), mỗi con người đều có những tác động qua lại với người khác (chi tiết ông già dở dở ương ương), mỗi cá nhân đều có nhu cầu lứa đôi (đôi lứa uyên ương), phải đánh đổ phong kiến để giành quyền con người (Đánh cho phong kiến tan tành)…
Vấn đề nhân quyền đã được Hồ Chí Minh nêu lên trang trọng trong Tuyên ngôn độc lập. Nhưng vận dụng trong đời thường thì Người lại mượn cách nói hết sức thân quen làm cho đối tượng tiếp nhận cái mới một cách tự nhiên. Thế là với cách nói giản dị ấy, nói bằng ngôn ngữ Truyện Kiều, Hồ Chí Minh đã đề cập đến một vấn đề cả loài người đang phấn đấu.
Năm 1914, trong thư gửi cho cụ Phan Châu Trinh, Người viết:
Chọc trời khuấy nước tiếng đùng đùng
Phải có kiên cường mới gọi hùng
Đó là một cách ca ngợi khí phách của một nhà cách mạng tiền bối. Những năm 40 của thế kỷ XX, nghĩ tới trách nhiệm của riêng mình với đất nước, Người trăn trở băn khoăn:
Mạnh gì sợi chỉ con con
Khuôn thiêng biết có vuông tròn hay không
Trong một lần dự tiệc với các tướng Trung Quốc ở Quảng Tây có Trương Phát Khuê, vợ chồng Tiêu Văn và cả Nguyễn Hải Thần, Hồ Chí Minh nói thẳng:
Trăm năm trong cõi người ta
Có lòng yêu nước mới là người Nam
Vui mừng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Người có những lời phấn chấn:
Cũng trong một cuộc Điện Biên
Ta mừng thắng lợi, Pháp phiền xấu xa
Trăm năm trong cõi người ta
Bên chính ắt thắng, bên tà ắt thua
Hồ Chí Minh thường vận Kiều để bày tỏ tâm trạng, thái độ cá nhân trước những sự kiện quan trọng mang rõ yếu tố thời sự. Lời thơ thể hiện những quan điểm đúng đắn như đoàn kết, sống có nghĩa có tình, lạc quan và có trách nhiệm với đất nước, quốc dân. Cái tôi hòa trong cái ta nhưng vẫn giữ riêng bản sắc. Vận dụng Kiều là vận dụng ngôn ngữ Việt, tiếng Việt để bộc lộ tâm hồn Việt. Sự vận dụng ở đây đúng chỗ, hợp lý, quen thuộc cộng với thời điểm và không khí nên đã có sự đồng thuận và sau đó là lan truyền.
Truyện Kiều đã sống một cách mãnh liệt trong đời sống tinh thần Việt Nam hơn 200 năm. Người Việt bắt gặp mình trong những hình tượng nghệ thuật trong Truyện Kiều, bắt gặp cái hồn dân tộc, những giá trị tình thương, những cái khát khao dân chủ, nhân quyền. Hồ Chí Minh không phải là một ngoại lệ nhưng Người là một nhân cách lớn nên đã vận dụng Truyện Kiều trong học thuyết của mình để xây dựng Minh triết Hồ Chí Minh. Trong dòng chảy của thơ mới đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh làm thơ tuyên truyền cách mạng nhưng với tư cách là một người xứ Nghệ học Nguyễn Du, những câu vận Kiều của Người lại mang rất nhiều yếu tố mới. Điều thú vị là với Truyện Kiều, cả những thường dân như chúng ta và cả những vĩ nhân như Hồ Chí Minh, tất cả đều có những gần gũi, những cảm thông và tâm đắc.