Tiến sĩ Nhà văn Nguyễn Quốc Luân (Nguyên An)
Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam
I.DẪN NHẬP
Lịch sử sinh thành và phát triển của văn hóa có thể nói là song song với sự ra đời và tiến triển của loài người. Quá trình đó được sơ khởi từ lời ăn tiếng nói, thói quen sinh hoạt, tập tục hương thôn,… đến hương ước làng xã, rồi ở Việt Nam là bộ luật Hồng Đức (1483)…Cho đến nay, khái niệm văn hóa đã rộng mở rất nhiều, không chỉ bao gồm các phong tục tập quán, nghi lễ nơi thờ phụng, mà văn hóa – cái căn cốt của xã hội còn hiển hiện ở hầu hết các lĩnh vực hoạt động của mọi giới chức trong cộng đồng quốc gia, với cả sinh hoạt gia đình .
So với một số hoạt động khác, to lớn như Chính trị, Kinh tài, Quân sự, Ngoại giao, Giáo dục, Y tế, thì văn hóa vẫn có sự trường tồn hơn. Đây chính là một đặc điểm, một thuộc tính tự nhiên của văn hoá hơn. Sự thực này khiến cho văn hóa được xem là hồn cốt của gia đình, dòng họ, của dân tộc, quốc gia, nền văn hóa tốt đẹp – tất nhiên đã là bệ đỡ, rồi là lực đẩy cho gia đình – dòng tộc – quốc gia vượt qua gian khó mà phát triển .
Văn hóa vững và đẹp thường được dồn tụ, chưng cất thành một số truyền thống như hiếu học, xả thân vì nghĩa, giao lưu thân ái, ứng xử khoan hòa, làm việc chăm chỉ… và cũng hay có trong nhân cách của những danh nhân thuộc các ngành nghề, các lĩnh vực hoạt động xã hội … Họ là những vị như Trần Nhân tông, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du … và thời chúng ta là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp … Các bậc danh gia này vừa là người thực hành văn hóa, vừa là nhà nghiên cứu văn hóa (văn hóa học).
Ngày nay, khoảng cách giữa hoạt động văn hóa và nghiên cứu văn hóa đã được rút ngắn dần. Một sự liên thông – liên kết đã được mở ra, không chỉ trong hệ sinh thái văn hóa Việt mà còn cả văn hóa Việt với văn hoá các nước khác. Sự liên thông này đang tạo ra một sắc diện mới, thành tựu mới, chủ yếu được bắt nguồn từ đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam. Năm 1943, khi chưa giành được chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra cương lĩnh xây dựng và phát triển văn hóa của nước Việt Nam mới -Dân chủ – Cộng hòa – Độc lập -Tự do – Hạnh phúc, là dựa theo ba nguyên tắc Dân tộc hóa, Khoa học hóa, Đại chúng hóa.
Đó là hành trang, một số tiền đề thiết yếu để chúng ta tiến hành công việc phát huy di sản văn hóa Nguyễn Du nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
II.TỪ QUAN ĐIỂM CỤ THỂ ĐẾN THỰC TẾ KHẢO SÁT DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGUYỄN DU
- Chúng ta phát huy di sản văn hóa của Nguyễn Du là để thực hiện một công việc quan
trọng và cụ thể là đóng góp vào quá trình xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Di sản văn hóa Nguyễn Du gồm một số lượng sáng tác thật lớn, không chỉ kết tinh ở Truyện Kiều bất hủ và nhiều áng thơ chữ Nôm, chữ Hán nữa. Di sản văn hóa của Nguyễn Du còn được rút ra từ chính cuộc đời của bậc Đại thi hào – Danh nhân Văn hóa Thế giới này, là tư tưởng nhân văn cao cả, là tình yêu Cụ dành cho những người có tài có sắc trong xã hội và cả những người nghèo khổ, bị đối xử bất công …
Di sản Văn và Đời của Nguyễn Du là sự kế thừa, kết tinh một phần truyền thống văn hóa Việt Nam, trải qua thực tế, lại trở thành tấm gương để mọi người cùng soi và đi theo.
Khi làm công việc phát huy và góp phần này, cố nhiên, chúng ta nên /cần phải có sự chọn lựa những thành tố nào cho phù hợp với khả năng và tình hình – bối cảnh chung / riêng.
2, Từ sự khảo sát và nghiên cứu thực tế, chúng tôi đề xuất: việc phát huy di sản văn hóa Nguyễn Du để góp phần xây dựng văn hóa Việt Nam hiện thời, nên lấy tư liệu chính là tập thơ Truyện Kiều, một bản trường ca bất tuyệt bất hủ của Đại thi hào.
Dăm bảy chục năm trước đây tư liệu nghiên cứu Truyện Kiều phần lớn là các bản Truyện Kiều được truyền tụng trong dân gian, được in ấn bằng các nhà khảo cứu. Bên cạnh các bản Truyện Kiều này có một số tài liệu nữa là một số cuốn Từ điển Truyện Kiều , một số tiểu luận khoa học bàn về Truyện Kiều hoặc các chuyên khảo về Nguyễn Du và Truyện Kiều tại các trường đại học…
Gần đây,khối tư liệu liên quan đến công việc tìm hiểu di sản văn hoá của Nguyễn Du ngay trong một Truyện Kiều cũng đã phong phú hơn trước.
Truyện Kiều của Nguyễn Du được sân khấu hóa qua các hình thức như ca trù, hát then, cải lương, bài chòi, quan họ và các điệu ru… tại các vùng / miền thật khác lạ về phong tục, cảnh quan.
Các nghệ sĩ cũng tạc tượng, vẽ tranh về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Không những thế tập thơ – Truyện Kiều này của Đại thi hào – Danh nhân văn hóa Nguyễn Du cũng được dựng thành các vở kịch theo phong cách kịch thơ hoặc kịch nói…, được trở thành tác phẩm điện ảnh… Tất cả, đều tạo ra sự hấp dẫn cho nhiều tầng lớp công chúng.
Bên cạnh đó, Truyện Kiều còn được nhiều người dùng làm tư liệu để luận đời, để bói kiều. Trong các cuộc tiếp đón hội hè, người Việt chọn các lời, các câu thơ Kiều mà dựng thành các dạng hỏi – đáp, chào đón để làm quen. Một số chính khách (như mấy vị Tổng thống Hoa Kỳ) cũng lẩy thơ Kiều như tổ tiên người Việt … Như thế, Truyện Kiều đã hội nhập tự nhiên và hoạt động giao tiếp thật ý nhị và tinh tế vậy.
Việc điểm qua sự có mặt của Truyện Kiều trong đời sống thật sự là phong phú bội phần so với nhiều tác phẩm văn chương (trong và ngoài nước) như trên, bước đầu, cũng giúp chúng ta có cơ sở thực tiễn để đưa ra một tổng kết, một luận đề là: chỉ có những tác phẩm cô đúc được, khái quát được cuộc sống phức tạp như Truyện Kiều thì mới có được sức sống và sự lan tỏa văn hóa – nghệ thuật thực sự rộng rãi và bền vững
3, Đã và sẽ còn có nhiều hình thức, cách thức để phát huy tinh hoa văn hóa Việt của
Truyện Kiều mà tựu trung cũng là cần phải bắt đầu từ việc đọc thêm, đọc kỹ các tác phẩm này.
Đến với Truyện Kiều, bạn đọc bình dân được tiếp xúc, chia sẻ với biết bao nhiêu
tình huống của cuộc đời: tình yêu tuổi trẻ, chia ly và nhớ nhà, cay đắng và nhục nhã… Rồi vút lên từ đó là những dòng thơ như tổng kết về một loại người.
Một ngày lạ thói say nha
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền!
hoặc là tổng kết về nhân quần thế thái:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
nữa là:
Ngẫm hay muôn sự tại trời.
Trời kia đã bắt người làm người có thân,
Bắt phong trần, phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
Xen vào những dòng luận người luận đời ấy là những câu cũng khái quát, hàm ý khuyên bảo:
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một phần
hoặc là:
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
rồi ngay giữa những câu thơ ngỡ như miên man về tình cảnh của Thúy Kiều, cũng là nhiều kiếp nhân sinh, nhà thơ lại của cảm thán:
Nghĩ đời lại ngán cho đời
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen
Nhân cặp 6/8 này mà chợt nhớ đến câu mô tả sắc đẹp của Thúy Kiều “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”, bạn đọc càng quý phục khi Thi hào lại viết “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Ấy là Cụ vừa tổng thật sắc sảo vừa khuyến khích, động viên phải không?
Người đọc lâu nay và mai sau chắc còn có thể nói: Truyện Kiều hàm chứa một khả năng tổng hợp, khái quát không chỉ phù hợp với bình dân mà với cả những ai ai còn băn khoăn, trăn trở. Họ và chúng ta được Nguyễn Du thiên tài truyền cho trí tuệ – hiểu biết, truyền cho cả tình thương yêu, thông cảm mà những bước vững bước giữa đời, với đời.
4, Trong 3254 câu thơ Truyện Kiều, có lẽ những câu kể lại các cuộc tình yêu ngắn của Thuý Kiều với Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải là những câu Nguyễn Du tự thể hiện được thật nhiều, thật thắm thiết khối tình yêu đời, nâng niu đời và bênh vực đời rõ nhất.
Khi dựng / tả lại các cuộc tình đó, hình như nhà thơ như tươi trở lại, như trầm lắng hơn, ưu tư hơn và cũng có lúc hả hê hơn. Đó là những dòng thơ khiến cho tác phẩm này mãi mãi hiện lên vẻ đẹp sáng trong, vững bền của cả trí tuệ – tư tưởng cùng tình cảm thống thiết, nồng nàn trong ngôn từ. Hình ảnh, nhịp điệu của những câu thơ nàythật hài hòa.
Xin được dừng lại một lúc với trường đoạn Thúy Kiều với Từ Hải.
Tiểu đoạn đầu hai người gặp nhau, là trai tài gái sắc, Từ Hải như không nghĩ đến những ngày đã qua của Thúy Kiều. Họ tri ngộ và cảm mến nhau.
Tiểu đoạn tiếp theo thứ nhất, nghe vợ kể lại một phần đời đã trải và muốn đền ơn đáp nghĩa với “Chút còn ân ái, đôi đường chưa xong” thì Từ Hải đã “Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang”… Tiểu đoạn tiếp theo thứ 2, Từ Hải để vợ tùy nghi trả ơn và xử bọn gian ác, bạc tình và Hoạn Thư ghê gớm, ghen tuông.
Tiểu đoạn kết, Từ Hải chết oan ức giữa trận vì mắc mưu Hồ Tôn Hiến gian xảo. Thúy Kiều đau đớn tột cùng, gieo mình tự vẫn.
Quả thật chúng ta đã như quên hết xung quanh mà chỉ để mặc cho tâm trí mình được thơ Kiều cuốn hút, phải không? Ai cũng mừng cho Thuý Kiều, cũng khâm phục Từ Hải, rồi xót thương, đau đớn cái kết cục của cả cặp anh hùng thuyền quyên này.
Thẫn thờ gấp sách lại, vài trăm năm nay đã có bao nhiêu người đọc Truyện Kiều hỏi nhau: trong đời đã có nhiều người được toại nguyện rồi tan tác như Từ Hải và Thúy Kiều rồi? Hay đây chỉ là một giấc mơ? Tôi nghĩ đó là một giấc mơ về việc thực thi quyền sống của con người do cụ Nguyễn Tiên Điền dựng lên, rằng dẫu bị đọa đày vùi dập thì người có đức, có tài, lại có nhan sắc – họ là hoa của chúng sinh, ắt sẽ được mở mày mở mặt với đời để thực thi công lý, làm sáng rõ đạo nghĩa nhân sinh; rằng người có khát vọng tự do đã được thành tựu mà “Trái tim lầm chỗ để lên đầu” (thơ Tố Hữu), như An Dương vương và Mị Châu thủa xưa thì thảm cảnh lại xảy ra, khó mà cứu vãn được.
Vừa gieo vào lòng con cháu muôn đời một khát vọng, một ước mơ, lại nhắc con cháu nhân quần về một sự tỉnh táo cần thiết, đó chính là tư tưởng nhân văn cao cả của tác giả Truyện Kiều.
Tỉnh táo thì dễ, đúng mực hơn khi Thúy Kiều nghe Hoạn Thư trình bày rằng: “Tôi chút phận đàn bà…”, Thúy Kiều – cũng chính là Nguyễn Du đã tự nghĩ: “Tha ra thì cũng may đời,/ Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen”. Kết quả Hoạn Thư thoát tội. Trong ngàn năm Bắc thuộc và cho đến hôm nay, người Việt đã ứng xử với kẻ thù của mình, của dân tộc ra sao? Tôi không chắc là dân ta đã nhớ hết câu chữ – tâm tình mẫn tiệp của Nguyễn Du, tôi chỉ muốn cho rằng khi dựng lại đoạn Thúy Kiều xử Hoạn Thư này, tác giả Truyện Kiều đã vẩy bút theo tâm thức người Việt muôn đời. Nhà thơ thiên tài đã thấm nhuần đạo làm người của người Việt Nam, nên Truyện Kiều của Cụ chính là tiếng lòng, là tâm sự của văn hóa Việt. Rồi liền theo đó, tấm lòng cùng trí tuệ qua “tay họa vần” điêu luyện của Cụ – như một sự kết tinh trọn vẹn, hoàn hảo, văn hóa Việt lại đã được nâng cao lên hơn.
Truyện Kiều là một áng văn chương, không chỉ có giá trị về nghệ thuật làm thơ thuần Việt, kể chuyện đời của lớp bình dân, trung lưu là chính, thì cũng đậm tình cảnh Việt thuở xưa. Vậy mà nhờ vào tư tưởng nhân văn cao cả trong đó, tác phẩm kiệt xuất này đã thể hiện được khát vọng của dân ta, nỗi niềm của dân ta, đồng thời lại hướng cho người đọc tự suy ngẫm mà ứng xử sao cho trọn đạo nghĩa, có lý có tình.
Trong một tác phẩm Truyện Kiều có tác giả, có nhân dân cần lao với cả trí thức chân chính nữa. Qua thời gian, hai thành tố này đã và đang góp phần riêng vào quá trình xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tác phẩm bất hủ này đang có khả năng tạo thêm sự đầy đặn trong hành trang văn hóa của người Việt khi hội nhập vào văn minh nhân loại mà cùng phát triển.
Chúng ta được quyền tự hào về quê hương Tiên Điền – Hà Tĩnh đã có công gợi hứng, khởi tạo thêm tư liệu quý… để Nguyễn Du tạo tác nên Truyện Kiều bất hủ, thì thiết tưởng, chúng ta cũng muốn vùng quê thân thương này sẽ có thêm nhiều hoạt động thiết thực vào quá trình nghiên cứu và quảng bá di sản văn hóa đặc sắc của Nguyễn Du.
NQL