Alexander Potebnja (1835 – 1891) là một nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn học và cũng là một triết gia người Ukraina. Lý thuyết của ông về thơ có thể gói gọn trong một câu: „ THƠ LÀ SỰ TƯ DUY BẰNG HÌNH ẢNH“. Không có hình ảnh sẽ không có thơ. Nhờ có hình ảnh mà thi sĩ có thể đưa những cái có chung một đặc tính nào đó vào từng nhóm, chẳng hạn những cái to lớn được ví như biển cả, những cái có sắc đẹp được ví như hoa, những cái dịu dàng được ví như ánh trăng v.v…Hình ảnh là những cái có sẵn trong thiên nhiên, ai cũng có thể nhìn thấy, có thể cảm nhận và hình dung ra. Chính vì vậy, người ta có thể dùng hình ảnh để diễn đạt những cái khó có thể diễn tả bằng lời, nói một cách khác là nhà thơ dùng hình ảnh để biến cái phức tạp thành ra đơn giản. Mặt khác, hình ảnh trong thơ sẽ làm cho người đọc có thể có nhiều cách hiểu khác nhau – cái làm nên nghệ thuật của thơ.
Đọc truyện Kiều, chúng ta thấy đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng hình ảnh một cách tài tình như thế nào để diễn tả tâm trạng của nhân vật. Chắc hẳn ai cũng biết, việc diễn tả tâm trạng con người là một việc hết sức khó khăn, không chỉ khi làm thơ mà cả viết văn cũng vậy. Chính vì thế ta thường nghe câu nói quen thuộc: „ không diễn tả được bằng lời“. Đến đại thi hào Gớt (1749 – 1832) của Đức trong bài Mignon II, cũng viết:
Chỉ có ai khát vọng
Mới hiểu được tôi đau .
( Nguyễn Thế Tuyền dịch từ nguyên bản tiếng Đức /Nur wer die Sehnsucht kennt/ weiß was ich leide!/). Ý của câu thơ này là: chỉ những người đã trải qua mới hiểu nỗi đau này, chứ không diễn tả ra được.
Trong Truyện Kiều có một cuộc chia tay rất đặc biệt, đặc biệt ở đây là nói về tâm trạng, cảm xúc của kẻ ở, người đi. Đó là cuộc ly của Thúy Kiều với chính gia đình nàng, để Kiều theo Mã Giám Sinh, sau khi đã chịu bán mình chuộc cha. Những cuộc chia ly với Kim Trọng trước đó hay với Thúc Sinh sau này, người trong cuộc đều nghĩ rằng, chỉ là sự xa cách tạm thời, trong một thời gian ngắn ngủi và với tâm trạng: “Chén đưa nhớ bữa hôm nay/ Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau”. Cuộc chia ly sau khi Kiều bán mình để chuộc cha, mới là một thảm kịch đau thương. Chúng ta hình dung nỗi lòng của người cha, người mẹ khi phải tiễn con đi về một xứ sở xa xăm, rồi đây sẽ “bặt vô âm tín”, hơn thế nữa lại biết chắc con mình – một thiếu nữ đẹp tuyệt vời, còn hết sức trong trắng, thơ ngây- sắp phải gánh chịu nỗi khổ đau của kiếp vợ lẽ. Còn đứa con thì nghĩ rằng sẽ cầm chắc cái chết nơi xứ người, sẽ chẳng còn có dịp gặp lại cha mẹ và người thân, cho nên trước lúc đi Kiều đã nói lại với em gái của mình là Thúy Vân: “ Trông ra ngọn cỏ lá cây /Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”. Trong “Kim Vân Kiều truyện”, tác giả đã phải dành gần trọn một chương để diễn tả cảnh đau thương này, trong đó có đoạn:
“Vương bà khóc to lên và nói:
-Con ơi! Con thử nghĩ mẹ cha sinh con như thế nào, nuôi nấng con như thế nào, nỡ nào đem bán con đi làm lẽ mọn cho người! Con chưa biết cái khổ làm thân lẽ mọn… Giờ đây người ta yêu thích, người ta cưới con về, cả lẽ chung đụng mới sinh ra nhiều chuyện rắc rối; lúc ấy anh chàng dầu có yêu con đến mười hai phần chăng nữa, nhưng bị mọi người nói ra nói vào cũng sẽ nhạt mất tám chín phần. Gia dĩ con lại lạ người lạ mặt, thì còn ai thương xót đến con! Tới lúc đó, đánh mắng sống chết đều thuộc quyền người ta, con ơi! Mẹ e rằng, con không thể chịu được nỗi lầm than như thế. Huống chi, con từ nhỏ vẫn được nâng niu, ăn ngon mặc đẹp, mà giờ làm lẽ mọn, ở nhà người ta sẽ phải dậy sớm thức khuya như người già cả… Nghĩ tới nông nỗi ấy, mẹ đau đớn đến chết mất thôi. Nói đoạn, khóc nấc lên, rồi nằm lăn ra chết ngất…”.
Nhưng để diễn tả cuộc chia ly đầy đau thương này, đại thi hào Nguyễn Du đã viết nên một câu thơ có lẽ là vô song:
Đau lòng kẻ ở người đi,
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm
“ Lệ rơi thấm đá”có giá trị cao hơn rất nhiều so với câu ví mà ta thường nghe “ khóc như mưa”. Mưa không thể thấm vào đá được, trong cái tiếng khóc ấy, những giọt lệ ấy phải chứa đựng nỗi đau khôn cùng mới có thể làm đá mềm ra được cho nước mắt thấm vào. Ở đây Nguyễn Du không những không bị mắc vào cái bẫy „bắt chước“ mà còn thể hiện một bậc thầy về thủ thuật ví von trong thơ. Có lẽ cần nói thêm rằng „khóc như mưa“, người đọc nghe quá nhiều nên sẽ thấy nó trở nên bình thường. „ Tơ chia rũ tằm“ cho ta hình dung ra thể xác con người bị tâm trạng dày vò đến rã rời ra sao.
Trên đây mới chỉ là một thí dụ về tài nghệ của Nguyễn Du trong việc sử dụng hình ảnh để diễn tả tâm trạng tận cùng của nỗi đau. Còn có nhiều tình huống khác, chẳng hạn như diễn tả nỗi buồn của con người, đại thi hào của chúng ta đã thể hiện một tài năng vô song. Tuy nhiên bài viết này đã dài, xin hẹn lần khác .
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, ở Nga hình thành một trường phái về nghệ thuật văn chương có tên là trường phái „Hình thức Nga“. Những người này không đồng tình với quan điểm của Potebnja, họ cho rằng, tư duy bằng hình ảnh không phải là yếu tố cốt lõi quyết định sự vận động của thơ ca. Hình ảnh không giữ vị trí trung tâm mà chỉ là một phần trong tổng thể các thủ pháp của thơ ca. Từ đó họ đưa ra thủ pháp „Lạ hóa“ ( Ostranenia ). Và ngay cả thủ pháp này cũng đã được đại thi hào Nguyễn Du sử dụng trong những câu thơ của „Đoạn trường tân thanh“.
NGUYỄN CANH NHU