LÝ THUYẾT THƠ POTEBNJA VÀ TRUYỆN KIỀU
(Tiếp theo)
„ THƠ LÀ SỰ TƯ DUY BẰNG HÌNH ẢNH“ (Искусство – это мышление образами). Potebnja (1835-1891) nói như vậy, sau khi ông đã nghiên cứu tác phẩm thơ của các đại thi hào Goethe, Schiller, Heinrich của Đức, thơ của Paul Verlaine người Pháp… và đặc biệt là thơ của đại thi hào Nga Puskin. Ông nhận thấy tất cả các nhà thơ lớn đều có nghệ thuật sử dụng hình ảnh rất điêu nghệ. Chẳng hạn Goethe đã dùng sự khắc nghiệt và luôn thay đổi của thời tiết để ví tình yêu ( bài “Rastlose Liebe“- Tình yêu không yên ả ), hoặc câu thơ của Puskin: /Không gió lớn, sóng to không là biển/ Chẳng nhiều cay đắng, chắng là yêu/ v.v….
Trong truyện Kiều, Nguyễn Du cũng sử dụng hình ảnh, hiện tượng sẵn có trong thiên nhiên để diễn tả những điều khó viết thành lời. Trong bài trước, chúng ta thấy đại thi hào đã rất tài tình khi thuật lại cuộc chia ly đầy đau thương giữa Thúy Kiều với người thân trong nhà. Sau đây ta có thể lấy cách Nguyễn Du diễn tả nỗi buồn để làm thí dụ về tài nghệ sử dụng hình ảnh vào thơ của cụ. Trong thực tế, vui buồn là những cảm xúc thường xuyên xảy ra ở mỗi con người, nhưng chúng cũng có những cung bậc khác nhau. Chẳng hạn nỗi buồn khi bị lỡ một chuyến xe khác với khi phải xa người thân. Mà ngay cả việc chia tay người thân cũng khác nhau, tùy vào mức độ quan hệ và hoàn cảnh xa cách. Câu thơ “Người đi, một nửa hồn tôi mất, / Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ” của Hàn Mặc Tử, cho ta thấy mối quan hệ này là mối quan hệ thân thiết nhất giữa hai con người và do đó khi phải xa nhau thì nỗi buồn cũng lên đến tột cùng.
Để thấy cách đại thi hào Nguyễn Du diễn tả nỗi buồn, chúng ta thử tìm hiểu trong truyện Kiều lúc nào thì nỗi buồn của một nhân vật ở mức độ cao nhất. Tai họa đến với gia đình Thúy Kiều là rất bất ngờ: „Hàn huyên chưa kịp giãi dề / Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao/“. Mẹ, em và Kiều chưa kịp định thần thì đã phải chứng kiến cảnh cha và em trai bị tra tấn dã man. Sau đó, Kiều lại được nghe người mách bảo phải có tiền đút lót thì cha và em mới được thả. Nàng phải lo nghĩ cách để có tiền bằng việc bán mình cho Mã Giám Sinh. Tiếp theo, Thúy Kiều lại phải lo sắp xếp mọi việc trước khi từ biệt người thân. Đến Lâm Truy, những tưởng để làm vợ lẻ thì thực tế rơi vào ổ lầu xanh. Thúy Kiều lại phải tính toán tìm cách thoát ra khỏi vũng lầy ô ếu. Nói tóm lại Thúy Kiều luôn rơi vào những tình thế éo le, bất hạnh, buộc nàng luôn phải tính toán, cân nhắc để đối phó, có khi phải đặt lên bàn cân: „Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn“. Chính vì sự bận rộn ấy nên nỗi buồn không có cơ hội để trỗi dậy. Đến khi nàng quyết quyên sinh nhưng không thành, Tú Bà cho nàng ra lầu Ngưng Bích nghỉ dưỡng. Ở đây nàng không phải làm gì, suốt ngày đêm cô đơn nơi thanh vắng, xa lạ; nỗi nhớ người thân nơi quê nhà mà không bao giờ có cơ hội gặp lại; hoàn cảnh thực tế còn xấu xa hơn nhiều so với điều tưởng tượng trước đây….Đó là điều kiện để cho nỗi buồn ập đến. Nguyễn Du hiểu rằng, đối với con người như Thúy Kiều thì lúc này nỗi buồn đã lên đến đỉnh điểm. Đại thi hào diễn tả nỗi buồn ấy bằng những câu thơ thật hay:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dầu dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồị
„Thuyền ai thấp thoáng“ là nhìn rất xa, „Hoa trôi man mác“ là nhìn rất gần vì nhận ra cái đang trôi trên mặt nước là hoa, „nội cỏ dầu dầu“ là nhìn xuống mặt đất, „Chân mây“ là nhìn lên trên trời, „Gió cuốn mặt ghềnh“là lúc yên tĩnh có thể nghe được tiếng gió; „Ầm ầm tiếng sóng“ là sự ồn ào. Như vậy, nhìn xa, nhìn gần, nhìn lên, nhìn xuống, lúc yên tĩnh cũng như lúc ồn ào đều chỉ thêm buồn. Tât cả những hình ảnh và âm thanh đầy ắp một nỗi buồn đang vây lấy thân Kiều. Cho nên có thể nói nỗi buồn ở đây là không gì sánh nổi, không gì làm khuây khỏa được.
Nỗi buồn trong đêm đầu tiên Thúy Kiều và Thúc Sinh xa nhau, được Nguyễn Du tả:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
Đêm khuya thanh vắng, chỉ có vầng trăng ở tít trên trời cao mới chiếu đến hai người hai nơi rất xa nhau. Hình ảnh này gợi cho người đọc cảm thấy được nỗi buồn vì cô đơn của họ.
Lại có một nỗi buồn khác:
Buồn trông phong cảnh quê người,
Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa
Buồn mà ngắm hoa nở, nhìn chim bay là cái buồn ở cung bậc nào? Hai câu thơ này diễn tả tâm trạng của Kim Trong ở Liêu dương. Chúng ta biết rằng, Thúy Kiều và Kim Trọng vừa có sự thề thốt suốt đời yêu nhau thì Kim Trọng nhận được tin chú mất, chàng phải về Lưu dương chịu tang. Trước khi chia tay, Kim Trọng được Thúy Kiều gửi gắm những lời yêu thương, ngọt ngào tưởng như không gì sánh nổi:
Còn non còn nước còn dài,
Còn về còn nhớ đến người hôm nay !
Chắc chắn những lời yêu thương ngot ngào ấy sẽ lảng vảng trong tâm trí của Kim Trọng, sẽ làm trái tim chàng luôn thổn thức.Tâm trạng của Kim Trọng lúc này là tâm trạng của một người đang yêu và đang được yêu, chàng biết chắc Thúy Kiều cũng yêu mình như mình yêu nàng! Cho nên có thể nói cái buồn lúc này là „buồn lâng lâng“, hay „được buồn“mới đúng tâm trạng của Kim Trọng. Để diễn tả cái cảm giác „được buồn“ của Kim Trọng, Nguyễn Du mới dùng hình ảnh ngắm chim bay, ngắm hoa nở. Điều này không chỉ nói lên tài năng diễn tả tâm trạng con người của đại thi hào, mà còn thể hiện Nguyễn Du đã có sự thấu hiểu tâm lý rất tinh tường.
Biên giới giữa văn học và không văn học nằm ở đâu? Câu hỏi này đã được đặt ra từ lâu, nhưng không ai cho được câu trả lời chính xác. Tuy nhiên, những tác phẩm có tính nghệ thuật cao, nó được sinh ta từ những sáng tạo của con người thì nó luôn ở bên phía văn học và cách rất xa biên giới ấy. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong số ấy. Đó là một tài sản quý giá của nước nhà.
Nguyễn Cảnh Nhu