NGUYỄN DU THIÊN TÀI – VẤN ĐỀ ĐÃ QUEN MÀ CÒN LẠ – NGND.GS. Nguyễn Đình Chú

 NGUYỄN DU THIÊN TÀI – VẤN ĐỀ ĐÃ QUEN MÀ CÒN LẠ

                              (Trích)

NGND.GS. Nguyễn Đình Chú

Trong bảng giá về tài năng của con người với cuộc sống, không có thuật ngữ nào cao giá bằng hai chữ “thiên tài”. Ngay đến hai chữ vĩ đại phần nào vẫn dễ có hơn hai chữ “thiên tài”. Bởi vĩ đại trong nhiều trường hợp không phải là chữ “thiên tài”. Thiên tài vẫn hiếm vô cùng. Bởi không phải nước nào cũng có. Còn nhân tài thì dĩ nhiên là đúng sau nhiều so với thiên tài. Trong tiếng Pháp, từ genie đã được Tự điển Pháp Việt của Đào Duy Anh dịch là thiên tài, kỳ tài, anh tài, thì kỳ tài, anh tài vẫn sau thiên tài. Trong bảng giá văn chương, cũng đã có các thuật ngữ: nhân tài, thần đồng, văn hào, thi hào, đại văn hào, đại thi hào. Nhưng vẫn sau thiên tài cả.

Với các tác gia văn học Việt Nam, trong thực tế nghiên cứu đánh giá, đó đây, hai chữ “thiên tài” cũng đã được dùng với cấp độ tác gia là Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, ở cấp độ tác phẩm là Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh. Riêng Nguyễn Du thì vừa ở cấp độ tác gia vừa ở cấp độ tác phẩm là Truyện Kiều thì được dùng nhiều hơn. Nhưng với Xuân Diệu, Nguyễn Du cũng chỉ là đại thi hào cùng Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương. Điều đáng nói là người mệnh danh Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương là thiên tài, kể cả Số đỏ, Thi nhân Việt Nam là thiên tài thì đều chưa thấy đâu giới thuyết thiên tài là như thế nào. Trần Đăng Khoa khi mệnh danh Thi nhân Việt Nam là thiên tài thì có nói “đây là người trời thực tế để chứng ta suy nghĩ. Chưa kể là rồi đây nếu Phật hoàng Trần Nhân tông, minh quân Lê Thánh tông, nhà ái quốc vĩ đại Phan Bội Châu cũng có danh hiệu đó bởi rất xứng đáng thì cũng đều thuộc thời trung cận đại cả.

“Thiên tài” của Nguyễn Du cụ thể là gì? Quả là tôi đã phải tìm đường và dọn đường để đến với thiên tài Nguyễn Du bằng những thao tác vừa quen vừa lạ với bạn đọc nào đó là như thế. Và cuối cùng thì phải chỉ ra được những gì là tinh hoa nhất, cao diệu nhất, đích đáng nhất, là vô tiền khoáng hậu để kết luận về thiên tài Nguyễn Du, đặc biệt với Truyện Kiều. Thì như tôi đã thừa ngay từ đầu là trong khi những nhà nghiên cứu, Kiều học dù nói hay không nói Nguyễn Du là thiên tài thì cũng đã có không biết bao nhiêu là sự khám phá có giá trị về cái hay, cái đẹp, cái phi thường của Nguyễn Du, chỉ có điều là ít nhiều còn thiếu độ tường minh (implicit). Còn tôi là muốn nâng cấp thành tựu khám phá đã có lên trạng thái tường minh (explicit) được chút nào hay chút ấy. Cho nên công việc của tôi ở đây thực chất là tham khảo, thừa hưởng những gì đã có để chọn lọc và có năng cao nhất định, nhằm nêu lên những gì mà Nguyễn Du xứng đáng là thiên tài theo yêu cầu tường minh hơn.

Tất nhiên khi nói về thiên tài Nguyễn Du mà chủ yếu là với Truyện Kiều thì đã đụng phải vấn đề tiền thân của nó là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân vốn là một vấn đề không đơn giản chút nào trong nhận thức của người Việt Nam và cả người Trung Hoa. Ở đây, chỉ xin nói gọn đôi điều như sau: nó là hiện tượng thuộc một quy luật đặc thù của văn học trung đại không chỉ ở Việt Nam mà cả ở phương Đông trung đại và châu Âu thời Phục Hưng. Ở đây, từ tiền văn phẩm

 đến hậu văn phẩm vẫn có một khoảng cách lớn dành cho sự sáng tạo kế cả sáng tạo thiên nhiên và hiếm có.

 Thiên tài của Nguyễn Du – Gốc rễ từ tình thương con người

Đến với hậu thế, văn phẩm vẫn có một khoảng cách lớn dành cho sự sáng tạo, kể cả sáng tạo thiên tài, mà Truyện Kiều của Nguyễn Du là một chứng cứ hiển nhiên và hiếm có.

Thiên tài của Nguyễn Du thể hiện trước hết ở chỗ đã đi đúng quy luật bản chất nhất, gốc rễ nhất của mọi giá trị văn chương chân chính nhất, lớn lao nhất của nhân loại kim cổ: Đó là dựa trên tình thương con người. Đi thanh minh, Đổng Tẩy là dựa trên tình thương con người. Còn đâu chỉ một Thúy Kiều, còn Thúy Vân, Vương Quan. Còn là “ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Thế mà đi qua “sẽ sè nấm đất bên đường / Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” chẳng ai thấy gì cả và không thấy thì cũng chẳng sao. Nhưng Thúy Kiều thì thấy.

Thấy một “nấm mồ vô chủ ai người viếng thăm”. Thấy một kiếp người “Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi / Hài thay chết xuống làm ma không chồng”. Thấy cả cái “phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” trong muôn đời, muôn nơi, muôn thuở để rồi “đầm đầm châu sa”.

Tôi muốn xin quý vị đại thức giả nào chỉ cho tôi biết, trong văn chương nhân loại ở đâu có được một năng lực tình cảm để có được tình thương con người bao la, bất ngát, mênh mông, thâm thẳm như Thúy Kiều mà cũng là Nguyễn Du như vậy không.

Tiếng kêu muôn thuở về phận đàn bà

Tôi nói tiếng kêu “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” là tiếng kêu cho muôn đời, cho muôn nơi, cho muôn thuở. Người phụ nữ luôn có hai con người: con người xã hội và con người thiên chức.

Về con người xã hội thì đã, đang và sẽ giải quyết tốt đẹp, thậm chí có người đã dự báo đến một thời gian không xa, một khi mọi hoạt động kỹ thuật đã được tự động hóa thì địa vị xã hội của phụ nữ sẽ lấn át nam giới. Nhưng về thiên chức là chuyện mang nặng đẻ đau; cho dù y học về sản khoa hiện đại đã và sẽ có những bước tiến phi thường nhưng liệu có thay hết độ nặng nề của thiên chức đàn bà đó không?

Truyện Kiều là câu chuyện về một người con gái tài sắc vẹn toàn mà phải rơi vào chốn lầu xanh. Đến với Truyện Kiều, không ai không nói đến giá trị nhân đạo của nó. Nhưng nội hàm của khái niệm nhân đạo là…

Thì hầu hết vẫn chỉ tiếp cận bằng đạo đức học để từ đó rút ra những giá trị đạo đức của tác phẩm ví như tình thương người, lòng cảm thương cho những kiếp người đau khổ, khát vọng tự do và công lý, để cao những phẩm hạnh của con người, đặc biệt ở Thúy Kiều là “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Những khám phá đó không phải không giá trị. Nhưng như thế vẫn chưa nói hết những giá trị người mà thiên tài Nguyễn Du đã thăng hoa trong kiệt tác của mình. Đúng là phải có thêm phương pháp tiếp cận triết học để thấy cho hết giá trị nhân bản là gồm tất cả những gì làm nên giá trị người, trong đó có giá trị đạo đức đã đành nhưng còn những giá trị nằm ngoài đạo đức.

Với cách tiếp cận triết học này, sẽ thấy rõ trong lịch sử văn chương Việt Nam ta, từ cổ chí kim, không một hình tượng phụ nữ nào mà ở đó lại có mật độ hội tụ nhiều giá trị người được thăng hoa như ở nàng Kiều của Nguyễn Du. Năm 1962, một bà cụ già người làng Tiên Điền quê Nguyễn Du, hơn tám mươi tuổi, không biết chữ nhưng thuộc trùm cả Truyện Kiều đã nói với tôi: “Con Kiều đẹp nhất nước Nam. Bấy tui thương nhất con Kiều”. Tôi hỏi cụ: sao lại nói “con Kiều đẹp nhất nước Nam” mà không ai khác. Bà trả lời: “Bầy tui nỏ biết chi mô. Chỉ thấy rứa thì nói rứa”. Đúng là một hiện tượng trực cảm văn chương vô giá. Câu nói của bà cụ già Tiên Điền đã nắm chắc trong bộ nhớ của tôi để hơn bốn mươi năm sau, nhân dịp kỷ niệm Nguyễn Du, tôi đã coi đó như một đề văn mà tôi phải làm để xin đọc giả chấm cho 1. Quả là thế, Kiều đẹp tuyệt với từ cơ thể sinh học (nudité) đến nhan sắc, đến tình yêu, đến khi mất tình yêu, đến khi phải làm đi, đến khi là vị chánh án xử tội kẻ có tội ác với mình, đến khi gặp lại chàng Kim nghĩa là có lại hạnh phúc sau bao nhiêu đau thương tan nát. Nhiều người đã rất ca ngợi tấm lòng nhân đạo lớn lao của Nguyễn Du nhưng vẫn cho rằng triết lý về con người thì Nguyễn Du không có gì đáng giá, phải đứng sau Shakespeare. Ở Nguyễn Du vẫn là thuyết “tài mệnh”.

“tương đối” của Nho giáo, thuyết “Tu là cõi phúc tình là dây oan” của Phật giáo. Ngay cả tư tưởng “nhân định thắng thiên” thì sách Tả truyện của Trung Hoa cũng đã nói từ thuở nào. Trong khi Shakespeare thì có luận đề “To be or not to be” nói tiếng bao đời nay khắp thế giới. Tôi cũng từng nghĩ như thế nhưng đến nay lại muốn nghĩ khác, coi đây không phải là sự hơn thua mà là khác biệt giữa hai khu vực văn hóa, trong đó có hai truyền thống tư duy, hai truyền thống triết học khác nhau. Phương Đông thì tư duy chủ toàn, cấu tính (esprit sphérique, globale), thiên về hỗn hợp (syncrétique) và hướng nội. Phương Tây thì tư duy chủ biệt, tuyến tính (esprit linéaire), thiên về phân tích (analytique) và hướng ngoại. Do đó mà có hai trạng thái triết lý nhân sinh khác nhau như thế. Khó nói bên nào hơn bên nào. Nguyễn Du đã thăng hoa những giá trị người với mật độ cao như thế ở hình tượng Thúy Kiều hay nói như Mộng Liên Đường: “Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới muôn đời” như thế sao lại không là triết lý, triết học của trực cảm thiên tài. Gần đây, chẳng đã chớm có quan điểm cho rằng về triết học, chính phương Đông cao hơn phương Tây. Chúng ta nghĩ sao về quan điểm mới lạ này? Bước đầu, tôi muốn tin như thế để hiểu thêm thiên tài Nguyễn Du.

  1. Từ gốc rễ tình cảm và tư tưởng nhân đạo nhân bản

Từ gốc rễ bền chặt cao độ của tình cảm và tư tưởng nhân đạo nhân bản như thế, thiên tài Nguyễn Du đã tỏa sáng phi thường cũng theo đúng quy luật nghiêm ngặt nhất của văn chương.

2.1. Thiên tài về ngôn ngữ – Yếu tố đầu tiên của tài năng văn chương

Thứ nhất là thiên tài về ngôn ngữ vốn là yếu tố đầu tiên khi nói đến tài năng văn chương. Ở đây là trong thơ ca tiếng Việt và thuộc thể loại truyện thơ. Ngôn ngữ của Truyện Kiều đã kết tinh dựa trên sự hợp lưu của hai luồng ngôn ngữ dân gian và bác học, đời thường và cổ điển của văn chương Việt Nam trung đại. Nó vừa mang dấu ấn thời đại, vừa là đỉnh cao của muôn đời ở tính chất tập đại thành của nó. Câu nói của chủ bút Nam Phong: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn.” Là hoàn toàn chân lý, cần thấy rằng một dân tộc, một quốc gia gồm có: lãnh thổ, giống nòi, chính thể, lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và ngôn ngữ. Nếu không may bị ngoại xâm chiếm đóng thì mất gì cũng có thể lấy lại được. Nhưng mất ngôn ngữ, tiếng nói, thì sẽ là mất vĩnh viễn. Nghĩ như vậy, sẽ thấy Nguyễn Du thiên tài với Truyện Kiều, là một nhà ái quốc vĩ đại. Chế Lan Viên chẳng đã viết: “Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn”.

2.2. Thiên tài trong việc tạo ra thế giới nhân vật sống động

Thứ hai là thiên tài trong việc tạo ra một thế giới nhân vật sống động, mỗi nhân vật là một cá tính nghệ thuật, không ai giống ai. Thành tựu nghệ thuật đó là sản phẩm của quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Du về con người không chỉ đơn tuyến mà đa tuyến và còn là sản phẩm nghệ thuật của Nguyễn Du từng được mệnh danh là thánh thi nhân về mặt tâm lý trong văn chương.

Truyện Kiều thuộc thể loại truyện kể của dòng truyện Nôm đương thời nhưng theo Nguyễn Đình Thi, “Truyện Kiều” đã là một tiểu thuyết hiện đại, hoặc như Phan Ngọc đã coi “Truyện Kiều” là một tiểu thuyết tâm lý vô địch của thế giới, nghe có vẻ cực đoan nhưng không phải không có căn cứ nhất định của vị học giả này trong công trình Phong cách Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”.

Với Nguyễn Du, tâm lý nhân vật đã được miêu tả ở độ tinh diệu trong sự chi phối của hoàn cảnh, khác nhiều so với loại nhân vật thường được mệnh danh là hình tượng khái niệm, nhất thành bất biến về tính cách trong truyện thơ Nôm.

Gắn bó trong tình yêu đến như Kim – Kiều bằng những lời thơ không đâu hay hơn được nữa: “Trăm năm tạc một chữ đồng nên xương”, “Nát thân bồ liễu đến nghỉ trúc mai”. Nhưng sau mười lăm năm lưu lạc, Kiều gặp lại chàng Kim thì Nguyễn Du lại viết: “Nợ chàng Kim đó là người ngày xưa”. Nợ chữ không phải đây. “Chàng Kim đó” chữ không phải “chàng Kim này”, “là người ngày xưa” chữ không phải “là người hôm nay”. Cái gì cũng xa lơ xa lắc vời vọt như thế, tính hiện đại của tiểu thuyết ở Truyện Kiều mà Nguyễn Đình Thi nói là bởi vậy.

2.3. Thiên tài trong việc tạo ra thế giới thứ hai: Thiên nhiên

Thử ba là thiên tài ở việc tạo ra trong tác phẩm một thế giới thứ hai, tức là thiên nhiên mà cho đến nay, trong phạm vi văn chương Việt Nam, dù cũng có những thành tựu sáng giá với Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… nhưng xem ra vẫn không ai ngang tầm Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” với đủ bốn mùa xuân hạ thu đông, với không biết bao nhiêu là ánh trăng tương thích với bao nhiêu cảnh ngộ của nhân vật trung tâm Thúy Kiều.

Có được thành tựu nghệ thuật siêu đẳng này, rõ ràng Nguyễn Du cũng như tác giả có nhắc tên đó đã gắn hồn thơ, tài thơ của mình một cách máu thịt với một triết lý nhân sinh vĩ đại của phương Đông là thuyết tam tài: Thiên – Địa – Nhân, “thiên nhân hợp nhất”, “thiên nhân nhất thể”, “thiên nhân tương dụ”. Triết thuyết này không chỉ chi phối văn chương mà cả với nghệ thuật của phương Đông nói chung.

Cứ nhìn vào vị trí xây dựng các chùa chiền ở nước ta mà so sánh với vị trí xây dựng của các nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Châu Âu, ngay cả ở Việt Nam ta thì rõ. Một bên thì tựa mình vào rừng núi, hang động của thiên nhiên hùng vĩ, rất tiếng chim kêu vượn hót. Một bên thì sừng sững nằm ngay giữa đô thành rộn rịp nếu không thì cũng là nơi đông đúc người qua kẻ lại.

Đúng là thiên tài văn chương của Nguyễn Du đã “hút nhụy” từ triết học phương Đông, quan niệm con người với thiên nhiên là một khác phương Tây coi con người là trung tâm của vũ trụ, từ đó mà lịch sử đã có hai hướng đi khác nhau. Các chí sĩ Đông Kinh nghĩa thực chẳng đã nói: phương Đông là văn minh tình, thiên về vật chất. Ở phương Tây hiện đã có xu hướng muốn tìm về phương Đông, dĩ nhiên là phương Đông cổ trung đại từng có những triết thuyết như thế.

2.4. Thiên tài với sức sống phi thường của tác phẩm

Thử tư là thiên tài bởi với văn chương Việt Nam, kể cả văn chương thế giới, nếu tôi không lầm thì không đâu tác phẩm lại có sức sống phi thường như Truyện Kiều của Nguyễn Du, mặc dù theo học giả Đặng Thai Mai thì còn…

của La Mã cổ đại có nhiều biến động, “bảng giá” văn chương vốn có nhiều đẳng cấp. Có loại bảng giá thuộc một giai đoạn, một thời đại, một chính thể nên một khi chính thể ấy, thời đại ấy qua đi thì loại bảng giá văn chương đó ít nhiều cũng qua đi. Xem bảng giá của văn học Nga sau ngày chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ thì rõ là thế. Nhưng vẫn có loại bảng giá thì bất chấp giai đoạn xã hội, chế độ chính trị, thời đại nào cũng vậy, vẫn được sùng bái với thời gian. Cũng ở Nga, Puskin, Lev Tolstoi, Dostoevski… là thế. Bảng giá văn chương Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật lạnh lùng đó. Với văn học Việt Nam thời trung đại, bảng giá văn chương nhìn chung đã ổn định mặc dù hậu thế chưa khám phá hết kho báu của nó. Tuy thế, vẫn có đẳng cấp nhất định trong bảng giá đã định hình đó mà vị quán quân tuyệt đối không ai khác là Nguyễn Du. Cách đây ba năm, Trung tâm Kỷ lục Việt Nam đã tôn vinh Truyện Kiều với 5 kỷ lục:

Năm kỷ lục của Truyện Kiều:

  1. a) Một tác phẩm mà cứ trích ra mấy câu là thành một bài thơ riêng.
  2. b) Một tác phẩm được dịch ra một tiếng nước ngoài (tiếng Pháp) nhiều lần nhất (10 lần, có chỗ nói 12 lần).
  3. c) Một tác phẩm mà có thể đọc xuôi và đọc ngược được.
  4. d) Một tác phẩm đã được nối điệu nhiều nhất. Có tác phẩm nối điệu đến ba ngàn câu.
  5. e) Một tác phẩm mà tự nó đã tạo ra một hiện tượng văn hóa về nó với nhiều hình thức bền vững: bói Kiều, tập Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, chèo Kiều, tuồng Kiều, cải lương Kiều, kịch Kiều, phim Kiều, nhạc Kiều, khoa học Kiều,…

Nhân dịp này, tôi cũng đề nghị thêm một kỷ lục nữa với Truyện Kiều là một tác phẩm đã gây nhiều tiếng vang của đất nước nhiều nhất và nhiều hơn bất kể lúc nào trong những năm đầu của thế kỷ XXI này. Đúng là thế. Chưa bao giờ việc tìm in lại các bản Kiều cổ, việc tìm lại các bản Kiều Nôm lại rôm rả, đầy đặn, nhiều như thế. Ông Nguyễn Khắc Bảo vốn là giáo viên dạy toán phổ thông cơ sở sau ngày nghỉ hưu đã sưu tầm được 60 bản Kiều Nôm. Sự tái xuất văn bản Kiều Nôm và quốc ngữ phong phú như thế đã kéo theo việc khảo dị văn bản cũng trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Cũng chưa bao giờ xuất hiện thêm nhiều nhà Kiều học từ nhiều chuyên ngành nghiên cứu văn chương. Ông Phạm Đan Quế, cũng là một giáo viên Toán phổ thông trung học, sau ngày nghỉ hưu, chỉ trên dưới mười năm cho ra mắt độc giả 16 cuốn sách về Truyện Kiều. Có vị giáo viên văn phổ thông cơ sở ở Thái Bình chơi sách tích lũy được khoảng 250 sách Kiều và nghiên cứu Kiều. Nhà giáo văn học Lê Xuân Lít vừa quá cố, chỉ mấy năm cũng đã ra mắt bạn đọc hai công trình về Truyện Kiều hơn ba ngàn trang. Việc giải mã, bình phẩm Truyện Kiều cũng có thêm cách tiếp cận mới dù chưa có công trình nào sáng giá bằng giai đoạn trước. Trên thế giới, với quãng thời gian đầu thế kỷ XXI này, có tác phẩm nào như thế không nhỉ?

 

 

Bài viết khác

Tác giả: Kiều Học